Friday, June 29, 2007

Ngã tư làng

Ngã tư ấy giờ bỗng đông vui anh em ạ! Mà ngày xưa đấy chỉ là nơi hai con đường đá gặp nhau. Đá lổn nhổn củ đậu, cửa nhà hai bên hiu hắt.
Mà cũng chẳng xưa lắm đâu, chỉ độ mươi năm về trước. Nay thì một đường bê tông nhựa láng o. Một phía thì có khu công nghiệp, một phía có miếu bà Chúa Xứ. Ngay ngã tư là một cây xăng. Còn lại chung quanh là quán xá: cà phê, cháo lòng, hủ tíu. Cả những quán ka- ra- ô- kê thấp thoáng áo tím áo hồng.
Tôi cứ lấy làm lạ rằng, mới chín, mười giờ sáng, giờ đi làm mà thấy người quanh ngã tư nhàn tản thế! Anh thợ cắt tóc đang mải đánh cờ tướng ở bên kia đường, gọi mãi mới về. Mấy thanh niên khác vẫn còn xúm xít dưới mái lá đơn sơ dựng tạm dưới tàn me. Hỏi, anh thợ cắt tóc bảo: - Họ chẳng chơi đâu, họ cũng đang làm việc đấy! Họ là ai? Là cánh lái bò.
Quả thật, lát sau đã thấy một anh móc điện thoại di động ra nghe. Rồi anh lấy chiếc xe lôi dựng ở trong lề, nổ máy lao đi. Những chiếc xe lôi của các anh cũng lạ. Thùng xe đóng thành cái cũi cao gần 2 mét. Anh thợ cắt tóc bổ sung thêm:- chở nhiều thì được 4 con bò.
Quy trình của cánh lái bò thời hiện đại như sau: Lái chính thì cưỡi xe máy luồn vào từng ngõ xóm. Ở đâu có người bán thì các anh tới coi, săm soi tướng tá. Có thể cũng ỉ eo chê một chút về bò ốm, bò già. Rồi hỏi giá và trả giá. Xong xuôi, móc di động ra điện cho mối xe lôi ở ngã tư này lên chở. Đầu ra là những lò giết mổ, có thể ở ngay Thị xã, mà cũng có khi tới tận Củ Chi. Xe lôi thì nơi nào cũng sẵn sàng đi, giá cả đã có thoả thuận.
Theo con đường bê tông nhựa về hướng Thị xã, chỉ hơn trăm mét nữa là tới cây cầu bắc qua rạch Tây Ninh. Mé sông có mấy ngôi nhà sàn mọc thoi loi bên bờ nước. Xa xa là cánh đồng xanh vời vợi, có mấy hàng cây thốt nốt điểm trang. Bên mố cầu này còn có mấy sạp tre nứa đơn sơ của người bán những sản vật quê đồng:- một lồng chuột, toàn những con béo núc, vài ba rổ ốc, dăm chậu cá đen cá trắng còn nhảy choi choi như vừa vớt ở sông lên. Nhiều xe đi qua dừng lại, bởi khách làm sao mà cầm lòng được khi nhìn thấy những món tươi roi rói có sức gợi lên mùi thơm của sả, của gừng.
Ôi những ngã tư làng! Tây Ninh có biết bao ngã tư làng còn bình dị và mộc mạc như thế giữa thời công nghiệp hoá?
NGUYỄN

TRÁI TIM ĐÁNH MẤT

Tôi dằn ly rượu khỏi tay anh: “Thôi đừng làm điều vô nghĩa này nữa!”. “Mặc tôi, em mặc kệ tôi, có yêu tôi đâu mà em bày trò quan tâm như thế. Em đi đi… đi nhanh đi, nếu không tôi… tôi…”. Nước mắt từ khoé mi người đàn ông tôi yêu nhất trên đời bất ngờ tuôn đổ, nước mắt của một con người đáng ra đã gan lì, phải chín chắn trong cuộc sống bất ngờ tuôn rơi khiến tim tôi đau nhói; nỗi đau như ngàn nỗi đau cộng lại dù mười năm yêu anh chưa phải tôi đã chưa từng đau.
Nhưng không thể yếu đuối thêm lần nữa, phải dứt khoát thôi, người ta vẫn nói thà đau một lần rồi không còn đau nữa, không biết có đúng không, chỉ thấy bây giờ lòng tôi rối bời, thổn thức. “Tuỳ anh thôi, tại sao em phải cản anh, nhưng khuya rồi”. Tôi cố tình tàn nhẫn và quay gót. Bất chợt một vòng tay siết chặt ngang lưng làm bước chân tôi khựng lại suýt ngã. “Em đừng đi có được không? Anh yêu em nhiều lắm!” và dòng suối nóng mặn chát chan hoà khắp trên mắt, trên môi tôi. Bối rối… nhùng nhằng… nhưng bây giờ không thể hành xử theo con tim được nữa, cúi xuống thật thấp để thoát khỏi vòng tay ấy, tôi nói khẽ “Thôi anh, muộn hết rồi, mai em đi… vĩnh biệt…”.

Quen nhau lúc 19 tuổi, còn anh hơn tôi đúng… một lố rưỡi mùa xuân. Khoảng cách 18 năm với mọi người là cha là chú, là phải tôn trọng, là… nhưng với tôi chẳng là gì cả vì một điều đơn giản: tôi yêu anh. 19 tuổi tôi quá bé bỏng và ngây thơ để biết rằng khi yêu, để có được nhau không phải chỉ có tình yêu là đủ. Để rồi phải giận hờn, phải ray rứt, phải ghen tức với chính mình khi nghe người phụ nữ gọi người tôi yêu bằng mỹ từ “ông xã” và họ nhìn nhau bằng ánh mắt yêu thương.
Anh là “sếp” của tôi, khoảng cách trong công việc, ngoài xã hội, trên tuổi tác, với gia đình đều không thể gần nhau.
Tôi biết mình không phải, biết mình chỉ khổ trong mối quan hệ này, nhưng không thể nào dứt ra được.
Nhiều buổi chiều cuối tuần tôi gặp anh cùng vợ tay trong tay đi trên phố. Ánh mắt người phụ nữ ấy nhìn tôi như kiêu hãnh, như thương hại. Đuôi mắt đã bắt đầu có những nếp nhăn, nhưng chị vẫn vô tư cầm trên tay cây kem bảy màu, trong bộ trang phục thể dục trông chị xinh lắm.
Tôi gật đầu chào hai người rồi tăng ga trong dòng xe ồn ào đang cuộn chảy, trời ơi… tại sao ông lại khéo trêu ngươi, trói buột tôi vào mối quan hệ không lối thoát này?

“Em hãy rời xa anh đi, để còn làm việc, để có chồng con cho ba mẹ yên tâm”. “Nhưng em không thể yêu ai ngoài anh, mà anh có xa em được không?”. “Không… Bé ạ, thế gian không chỉ có mình anh”. “Nhưng chẳng ai tốt như anh, đừng xa em, em không sống được…”. “Cô bé thiển cận quá”. “Vì em yêu anh, ngốc ạ!” Trời đất, tôi dám bảo anh ngốc ư? Anh hay tôi ngốc cũng không biết nữa khi mà bạn bè tôi bảo chẳng biết hai người nắm níu nhau để làm gì. Tình yêu ư? Rồi sẽ đi tới đâu, sẽ được gì? Khoảng cách tuổi tác quá chênh lệch, một bè vợ con, nhà cửa, danh dự… sẽ chẳng tên đàn ông nào dại dột vượt qua, có chăng, những mối tình như thế này chỉ tô điểm cho “cuộc đời vẫn đẹp sao” của họ mà thôi.
Ngày tôi xin được chính thức nhận vào làm việc ở công ty, người biết tin đầu tiên không phải là mẹ hay người thân, mà là anh. Tôi bắt anh chèo xuồng đưa tôi sang sông mua rau nhút, bông lục bình về nấu lẩu ăn mừng với lý do “Bạn em bảo bên sông rau mới hái, ngon ngọt lắm”. Trên chiếc xuồng nhỏ chòng chành, tôi thấy hạnh phúc nhất đời đã trong tầm tay là được nhìn anh, giữa dòng sông mênh mông, giữa trời mây bát ngát chỉ có tôi và anh chứ không có bất cứ một ai xen vào để làm bận bịu. Từ mũi xuồng đầu này, tôi rướn người qua ôm choàng cổ anh, hôn thật sâu. Đây là lần đầu tiên tôi dám “mạo phạm” như thế sau năm năm quen và yêu anh. Chiếc xuồng tội nghiệp chòng chành rồi lật úp vì anh quá bất ngờ đã buông rơi cây dầm xuống lòng sông.
Bờ sông bên này không có nhà cửa, chỉ có những ô ruộng rau nhút xanh rờn được phân cách để xác nhận chủ sở hữu bằng những nhánh chà giơ hàng trăm ngón tay úa màu năm tháng trong làn nước đục. Tôi đã vứt tất cả, những vướng víu ướt nhem, tuổi đôi mươi mộng mơ, vứt bỏ bao lời dạy bảo của mẹ, chông gai cuộc đời thế nào cũng mặc, gió dông ngày sau cũng chẳng ăn nhằm gì, tôi thành đàn bà trong vòng tay người đàn ông mình yêu quý.
Gió sông lồng lộng, bóng hoàng hôn đã bắt đầu rơi rớt. Tôi nghe lạnh, lạnh đến rợn người khi anh nhìn sâu vào mắt tôi và bảo “Lỗi tại anh. Nhưng trời ơi sao mắt em sâu thẳm và long lanh quá, đôi mắt này sẽ làm em khổ suốt đời, em ơi!”. “Không, em sẽ không khổ đâu, vì có anh bên cạnh” tôi nói mà nghe hạnh phúc ngập tràn.

“Sao em không bảo anh ly hôn để cưới em?”. “Nếu anh thật sự yêu em đã không chờ em nói như vậy”. “Anh yêu em nhất trên đời nhưng… không thể bỏ vợ con”. “Thì mình bỏ nhau”. “Không được”. “Tại sao?”. “Vì anh yêu em nhiều lắm”. “Lại nữa rồi, ngốc ạ, nhưng em không muốn con anh giống… như em”.
Làm sao anh biết được, tham vọng sở hữu anh to lớn trong tôi hơn bất cứ thứ gì trên cõi đời này. Nhưng tôi sợ cảm giác của những đứa trẻ chiều tan trường không được cha đến đón, sợ những khó khăn phải nếm trải trong cuộc sống sẽ chẳng có cha chỉ dạy, bảo ban. Sợ ánh mắt mẹ trong đêm đen sâu hun hút hơn cả bóng tối lạnh lùng rờn rợn, và sợ cả khi nghe tin cha mất như sét đánh ngang tay mà không thể khóc, cũng chẳng lấy làm buồn. Đó là tôi! Ba bỏ hai mẹ con khi tôi vừa tròn năm tuổi. Năm tuổi còn quá nhỏ để biết ba mình đã bị kẻ khác cướp mất. Bảy tuổi, mười tuổi… đi học bị bạn đánh, bạn làm lấm lem quần áo vẫn chẳng có ba để doạ bạn bè rằng “Tui về méc ba tui cho bạn coi” như bao đứa trang lứa khác.
Hơn mười lăm năm ba tôi đi đi về về là hơn năm ngàn ngày nước mắt mẹ tôi chưa một lần ngừng rơi. Nhưng mẹ vẫn yêu ba nhiều lắm! Ngày ba mất, mẹ bươn bả bán đổ tháo đàn gà, bầy heo và cả con heo nái sắp đẻ, gom góp hết tiền của trong nhà để mang đến phụ “người đàn bà ấy” lo ma chay cho ba vì mẹ biết cuộc sống của ba chẳng khá giả gì. Hai tấm thân héo hon ôm nhau khóc… tôi chẳng tả được cảm xúc mình lúc bấy giờ. “Người đàn bà ấy” thì bảo: “Phải chi em đừng yêu ảnh, phải chi em có thể chết đi được từ trước kia thì chị vào cháu không khổ như vầy”. “Không, phải chi chị đừng ghen, phải chi mình dễ dàng san sẻ một người đàn ông mà cả hai cùng yêu thì chắc cả hai không phải khổ” mẹ tôi nói như vậy. Và sau đó mẹ chia gia tài mà hơn hai chục năm trời cố công vun vén và gìn giữ cho cu Tuấn – con của ba tôi cùng “người đàn bà ấy”. Tôi không buồn vì tài sản phần mình bớt đi một ít, chỉ buồn mình được nhận tình cha không bao nhiêu.
Anh nhìn sững tôi lạ lẫm như người từ phương nào vừa đến. Đã mười năm rồi chứ ít gì đâu, tôi không còn là cô bé mười tám hồn nhiên nữa. Bao đám ngõ lời rồi phải ra đi vì câu cửa miệng của tôi “Cháu còn bận làm việc, chưa tính chuyện lập gia đình”. Tóc mẹ cũng bạc hơn sau những lần lắc đầu của đứa con duy nhất.
Chiều hôm kia, vừa về đến cổng, thì mẹ đã lôi tay tôi xồng xộc vào nhà, ném ánh nhìn sắc lạnh:
- Tại sao con lại cướp cha của những đứa trẻ đáng thương ấy?
- ???
- Đừng vờ vịt nữa, mẹ khen con quá khéo, chuyện tày đình vậy mà giữ kín bao năm trời! Vợ chú Quang vừa đến đây. Trời ơi, mẹ khổ như vầy chưa đủ để con động lòng sao? Sao con lại làm tổn thương người đàn bà và những đứa trẻ vô tội đó?
- Mẹ…
- Không mẹ con gì cả! Nếu còn coi mẹ là mẹ thì phải cắt đứt ngay, về quê ngoại mà sống. Chỗ đất này nhường lại cho cu Tuấn coi sóc và thờ phượng ông bà. Đi ngay, viết đơn thôi việc ngay! Trời ơi… con với cái!
Và mẹ tôi ngất đi. Bác sĩ phải truyền hai chai nước biển mới tỉnh lại.
Tôi trù trừ vì muốn tìm cho mình một lối thoát. Nhưng lối thoát nào đây? Mười năm còn loanh quanh vướng vấp, thì ngày một ngày hai làm sao có một phép màu? Mẹ đã biết hết mọi việc, chỉ lấy sự im lặng và nước mắt làm vũ khí với tôi, cả những ngày “tuyệt thực” bây giờ dáng mẹ như dính chặt vào giường, sự sống còn chỉ trông vào những mũi thuốc ngủ và dịch truyền.
Quyết định xa anh đã làm tim tôi tan nát. Tan nát của sự giập bầm giày qua xéo lại chứ không phải chỉ một nhát dao cắt đứt là xong.
Sắp nửa đời người rồi, tôi cũng phải lấy chồng, sinh con, tạo một mái nhà cho vẹn tròn khổ đau và hạnh phúc. Nhưng có hạnh phúc được không khi người đàn ông tôi yêu bằng tình cha con cũng không thuộc về tôi; người đàn ông tôi yêu bằng cả thanh xuân cũng phải trở về cùng người khác.
Chỉ còn mẹ, tôi không thể làm mẹ buồn thêm một phút giây nào nữa. Lá đơn xin thôi việc viết hoài cũng chẳng xong, vì nước mắt đã “vô hiệu hoá” bàn phím mất rồi. Những tờ giấy phẳng phiu cũng nát nhàu vì dòng suối trên mi mắt không ngừng tuôn chảy. Cuối cùng rồi cũng phải chấp nhận một lần đau, rồi sau đó có thể không còn đau thêm nữa hay mình sẽ chết đi vì nỗi đau này cũng không biết được.
Cúi thấp người để thoát khỏi vòng tay anh như lời chào vĩnh biệt một mối tình. Đèn đường vẫn lung linh sáng. Bước thấp bước cao tôi nghe lồng ngực mình trống rỗng… Hình như trái tim đã đánh mất không phải vừa mới đây.
05/07
Đ.P. THUỲ TRANG

CON HẺM!

Một sớm, mới 5 giờ sáng mà cả xóm đã vùng dậy lao xao vì tiếng la hét của một người đàn ông từ nào giờ ít thấy mở miệng. Ngơ ngác nhìn nhau một hồi mới hiểu: Cũng tại con hẻm!
Nó là con hẻm hậu đường B. Trong trí nhớ của tôi thì ngày xưa nó nhỏ xíu chỉ chừng hai mét là cùng. Ban ngày hắn sống nhờ trời ban đêm nhờ ánh đèn điện trong các ngôi nhà bên đường, chỉ vậy thôi nhưng ít ra hắn cũng là một con đường. Nói theo các nhà văn hay nhà gì đó thì nó là một trong các mạch máu để người xóm dưới lên xóm trên mời đám giỗ, xóm trên xuống xóm dưới mời đám cưới thật dễ dàng. Nhớ hồi đó, xóm dưới có quán bán tạp hoá, bán thức ăn để mỗi sáng các chị em phụ nữ bước vài bước chân ra khỏi nhà là đã có thể mua thức ăn mà không cần đi hơn một cây số xuống chợ, hơn nữa lại còn gặp mặt để chị em bè bạn hỏi thăm sức khoẻ, gia cảnh chồng con. Có quán hủ tiếu, bánh canh ăn sáng phục vụ cho những người đi làm sớm không tiện nấu ăn sáng. Mà nói chi cho xa tận xóm dưới, ngay tại xóm này cũng vô vàn chuyện để nhớ khi chưa làm lại con đường. Ngày xưa hẻm nhỏ, nhà cửa cái thụt vào cái lòi ra, hậu nhà trước (nhà mặt phố) là mặt tiền nhà sau (y như bây giờ) nhưng nhà mặt trước xả nước có chừng có mực. Đằng sau mỗi nhà có con mương nhỏ, nước thải thả xuống đó kéo ra cống ngoài đường. Phần nhà cửa không kín cổng cao tường, phần có chỗ thoát nước nên không khí thoáng đãng, mặt đường khô ráo, nhà trước nhà sau, nhà bên phải bên trái đâu đâu cũng là láng giềng thân thiết.
Cho đến một ngày, hẻm nhỏ rùng mình tỉnh giấc theo “công cuộc đô thị hoá nông thôn!” Bắt đầu là việc nâng cấp con hẻm cho to hơn, to hơn đường hẻm nhỏ (đương nhiên rồi). Từng chiếc xe to đùng lần lượt chạy tới, lạnh lùng đổ từng xe đất đỏ lên mặt đường khiến nó cao lên, cao lên, cao hơn… nhà cửa hai bên đường cả mét. Con đường láng o, thẳng tắp. Giá đất nghe đồn cũng nhích lên. Nhà cửa phải sửa lại (không sửa có mà chết với bụi!). Sắp đô thị thật rồi! Chỉ tội, cái “sắp” này hơi lâu, hơn hai năm trời chỉ mới tôn tạo có nhiêu đó. Mà cũng được đi nếu …. Chẳng là con đường mới chạy ngang ngã tư, nghĩa là cắt ngang đường từ ngoài lộ vào, nghĩa là nếu nó được nâng cấp thì nó cao hơn đoạn đường từ lộ B. vào (bây giờ gọi là đường H.) cả mét, và nghĩa là khoảng cao hơn đó đủ để biến đoạn đường từ lộ B vào có lúc thành ao, có lúc thành đầm lầy – chỗ trú ngụ lý tưởng của ếch nhái, muỗi mòng suốt mấy năm trời. Nguyên nhân rất đơn giản: nước không có chỗ thoát! Chẳng hiểu sao người ta lại không nghĩ ra chuyện kết hợp làm đường làm cống một lúc nhỉ?
Mấy năm sau, hẻm nhỏ lại rùng mình lần thứ hai! Người ta tiếp tục nâng cấp các con hẻm từ lộ B vào. Xe từng chiếc, từng chiếc chở đất đổ hàng hàng, rồi xe lu miết tới miết lui, con đường cao dần cao dần, đầm lầy biến mất, muỗi mòng biến mất, đường mới đã xong. Sắp đô thị thật rồi, nếu… Tại sao người ta vẫn không chịu làm cống thoát nước nhỉ? Cái đầm lầy, đám muỗi mòng biến mất đoạn đường đó lại xuất hiện ở đoạn khác. Thật kinh khủng, hẻm hậu theo quy hoạch từ hai mét thành sáu mét, tưởng rộng thênh thang ai dè nâng cấp riết mạch máu hết lưu thông, xóm trên xóm dưới hết qua lại.
Kể lể chuyện ngược xuôi nghe héo ruột, kể tới chuyện “nhân sinh” lại càng nghe “thắt ruột”! Chị Gái bán thức ăn than: từ hồi làm đường chị bị thiệt thòi thấy rõ do mấy chị xóm trên không còn đường xuống xóm dưới. Chị bán hủ tiếu, bánh canh hôm rồi vừa thấy mặt đã than: lâu lắm rồi mới gặp lại em đó nghen! Lại nói chuyện làng trên xóm dưới, ngay tại xóm đang sống chung với con hẻm nhỏ xấu số này cũng lắm chuyện buồn cười. Ví như cô gái nhà nọ sắp đám cưới mà cô cứ khóc lên khóc xuống vì đường sá như vầy thì khách nào vô nổi, ai thèm đi đám cưới làm gì! Ngừơi nhà đành khuyên: thôi, một mình chồng mày vô được rồi, hy sinh vì nghĩa lớn đi, hay dời lại. Trời ơi, dời đến bao giờ! Nghe mà muốn phát khóc thêm. Hoặc chuyện người đàn ông mới sáng xóm la dậy trời dậy đất đã kể hồi đầu chuyện nữa. Ông la trời vì đường không thoát nước mà người nhà đàng trước cứ đổ nước sau hè, có nghĩa là đổ ra trước cửa nhà đàng sau, tức là nhà ông! Ông than: “Nói thì mất lòng hàng xóm, mà không nói thì cứ chịu từ năm này qua tháng nọ, chịu sao nổi”. Cái sự tức của ông như nước tràn bờ, khiến những nhà mặt hậu ùn ùn lên tiếng phản ứng nhà mặt tiền: “Người gì mà cà chớn, có tiền sửa nhà mà không có tiền làm hầm chứa nước”. Mặt tiền cũng không vừa: “nói ít thì tao đổ ít, nói nhiều tao đổ nhiều!”. Cãi nhau chưa xong, mặt hậu đã ùn ùn làm đơn thưa mặt tiền. Đơn chưa gởi nhưng hai mặt đã không còn ngó nhau. Trời đất, giờ mà nói tình làng nghĩa xóm thấy xưa …xưa như chuyện cổ tích, không hề hiện hữu.
Có người nói, trước khi có sự thay đổi thì luôn có một khoảng lặng, ừ thì thôi, cố chờ khoảng lặng trôi qua vậy! Khoảng lặng đó kéo dài hai, ba năm trời nhưng rồi cũng đến lúc con hẻm rùng mình lần thứ ba, trở thành con đường thật sự, dù không đẹp mắt, không sang trọng, không láng lẩy vì cũng vẫn là đường đất đỏ nhưng là một con đường có thể cho người ta đi lại được như … mấy năm về trước! Tuy nhiên, sau một vài năm bình yên, các con hẻm lại tiếp tục bị đào lên để làm cống. Đó là chuyện cần thiết, rất cần thiết nhưng sao người ta không tính chuyện làm cùng một lúc tất cả mọi công đoạn từ nâng hẻm, làm cống đến việc làm sẵn đường nước… để đừng làm các con hẻm bớt đau đớn nhỉ? Hẻm nhỏ thì làm sao biết được chuyện lớn! Chỉ hy vọng khoảng lặng dành cho công cuộc làm cống này mau mau. Còn nghe nói làm mấy con hẻm này phải tốn kém tính bằng trăm triệu, nhưng cũng có những người nói là cái giá phải trả cho chúng không chỉ có vậy, mà đó còn là tình làng nghĩa xóm, là lòng tin, sự bực bội, là chất lượng sống … gì đó, những điều đó cũng cần phải tính vào chi phí làm công trình mới đúng!
Tóm lại, phải chờ đến bao giờ để xoá bỏ những khoảng lặng vô dụng như thế này hở trời? Ai chà, có vậy cũng kêu trời, vớ vẩn! Để đạt tới những điều tốt đẹp hơn thì phải hy sinh một chút thôi. Đúng quá rồi chớ còn gì nữa nhưng vẫn nghe buồn buồn, tiếc tiếc. Hy vọng khoảng lặng này qua mau. Mà chắc là mau!
Lê Duy

Chuồn chuồn

Bữa trước, lên núi cúng mùng năm thấy núi xanh chấp chới cánh chuồn bay. Ta có thể gặp chuồn chuồn ở nhiều nơi, nhất là những đâu gần các ao hồ. Nhưng nhiều như ở núi Bà thì chắc không đâu có. Có tới hàng triệu con trên khắp sườn non và cả dải rừng dương. Hai mươi phút cáp treo, đủ cho ta quan sát cách bay của một giống loài đã được đi vào ca dao dân tộc. Ấy là: “Chuồn chuồn bay thấp thì mưa/ Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm”. Nhưng cũng xin mách trước là áp dụng câu này vào chuồn chuồn ở núi Bà thì thua là cái chắc. Bởi ở núi, biết thế nào là cao với thấp. Chỉ thấy chúng bay xập xoà ở cả ngang và trên dưới ca bin.
Chuồn chuồn bay thật dễ dàng, cứ tưởng như có lúc chúng không thèm động cánh. Là chúng biết dựa vào lợi thế của đôi cánh to và mỏng tang, trong suốt để nương theo từng ngọn gió mà lơ lửng giữa tầng không.
Ngắm chuồn chuồn, lại ngán ngẩm cho các công trình đã trở nên “công cốc” của các anh Danh và Hải - những kỹ sư nông dân có khát vọng tự chế và bay lên một chiếc máy bay. Chế thì đã xong, mà bay thì chưa nổi. Nói “công cốc” là bởi sau chuyến khảo sát của đoàn công tác Bộ Quốc phòng, Báo Thanh niên đã mở hẳn một diễn đàn trên mạng về chuyện ấy. Đa số các ý kiến đều bày tỏ lòng khâm phục, cảm thông nhưng đều khuyên các anh nên bỏ cuộc. Lý luận, lý do đều chính đáng nên xin không nhắc lại.
Hỡi chuồn chuồn! Không ít các cậu bé như tôi thuở lên chín lên mười đã từng ước mơ rồi sẽ tự chế cho mình một đôi cánh để bay lên. Xa hơn nữa thì có chàng In- ca trong thần thoại Hy Lạp đã làm được cho mình đôi cánh sáp để bay, nhưng tới gần mặt trời thì sáp nóng chảy, người lại rơi về đất. Rồi chúng tôi cũng tự thoả mãn cho những ước mơ của mình với những con diều phết bằng giấy bản trên những nan tre. Đấy là hồi còn trẻ con, còn thanh niên sung sức thích bay, thích nhảy. Còn ngày nay thân mình đã thấy hơi nằng nặng, mỗi khi leo vài dốc bậc cầu thang. Có lẽ đành bắt chước cô ca sĩ Ngọc Khuê thôi, bằng những giấc mơ chuồn chuồn thời thơ bé, khi nghe cô hát giọng kim lảnh lót: “Chuồn chuồn ớt/ Trưa hè nóng bức/ Bắt em cắn rốn tập bơi/ Chuồn chuồn kim/ Mắt lim dim/ Đậu trên cây ngô đồng…”.
VẬN THI

MỘT TRUYỆN NGẮN CÓ HẬU!

Bất cứ chuyện gì xảy ra cũng có nguyên nhân cả, dù trực tiếp hoặc gián tiếp. Ví dụ nghe nói trái đất được hình thành sau một vụ nổ có tên gọi là BigBang, hoặc hình như có lời giải thích rằng loài người được sinh ra sau khi Adam và Eva bị trừng phạt vì tội ăn trái cấm (À, trong vụ này có nhiều điều rất thú vị mang tính triết học, ví như nếu ông Adam và bà Eva không ăn trái cấm thì làm sao có loài người, thế thì sao gọi đó - chuyện hai ông bà ăn trái cấm - là tội lỗi?). Do đó, cùng một sự việc, có thể là tốt nhưng bị gán cho là xấu, là xấu nhưng có thể được cho là tốt, thế đấy. Tuy nhiên mở đầu câu chuyện tôi đã nói là chuyện gì cũng có nguyên nhân cả, vì vậy, chuyện dưới đây cũng có nguyên nhân sâu xa của nó chớ không phải không nhưng nguyên nhân của nó thì … thôi, như thế nào thì ngay cả người viết cũng chẳng biết ra làm sao chỉ biết ghi lại mọi việc y sì như nó đã xảy ra, chuyện nọ lại xọ chuyện kia, thế thôi!
Chuyện là như thế này:
Vào một ngày đám giỗ, người chồng kêu người vợ đi mua một con gà về nhà nấu cháo cúng ông bà, sẵn tiện làm tiệc đãi bạn bè thân hữu. Người vợ rất vui lòng, chuyện nhỏ như con thỏ! Sáng sớm chị tức tốc ra chợ. Hàng gà đông ơi là đông, chen chen lấn lấn mãi chị mới vào được sát hàng gà làm sẵn, đến đây thì … hết, tức là hết gà á! Chị quay ra, thầm nghĩ: làm gì bữa nay ai cũng muốn ăn gà vậy trời?! Bản thân chị cũng vậy, muốn ăn gà, nên quyết phải mua. Không có gà làm sẵn thì chơi gà sống vậy, có sao đâu!
Trong khi đó, ở nhà mọi thứ đã xong xuôi sẵn sàng chỉ còn thiếu mỗi con gà. Mặt trời dần lên cao, giờ hẹn khách khứa sắp đến nhưng mãi mới thấy vợ xách gà về nhà, và, chuyện bắt đầu xẩy ra.
Người chồng nhìn con gà, phê phán:
- Bộ đi chợ dưới Sài Gòn hay sao mà lâu vậy?
- Chợ đông lắm.
- Giờ này mà mua gà sống thì biết bao giờ mới làm xong?
Người vợ phân bua:
- Chợ đông nườm nượp nên mua gà sống cho nhanh, với lại gà làm sẵn lỡ trúng phải gà bịnh thì sao?
Giọng chồng hơi bực tức:
- Ngu gì ngu dữ vậy? Gà khoẻ với gà bịnh mà cũng không biết phân biệt!
Giọng vợ vút cao cho thấy cục tự ái đã lên tới cổ: ngu vậy đó, sao không giỏi đi mua đi?
- Mua con gà cũng không biết, cái thứ đàn bà gì vậy?
- Đàn bà như vậy thì sao? Có giỏi thì đi mua đi, chỉ biết ăn với nhậu mà cũng bày đặt!
- A, còn dám chê chồng nữa à?
- Tôi chẳng chê ai, có sao nói vậy thôi!
- Cô giỏi lắm, hèn chi mà lúc này thường hay đi ngang về tắt, hẹn hẹn hò hò.
- Cái gì mà mà hẹn hẹn hò hò, bộ bây giờ tui không còn có quyền có bạn nữa hả? Bộ có mình anh mới có quyền có bạn bè sao?
- Bạn, bạn gì chớ? Bạn gì mà toàn là quán nhậu tới karaoke là sao?
- Thì lâu lâu tui cũng phải có quyền đi đây đi kia chớ, bộ tui chỉ có quyền hầu hạ mấy người sao? Mà tui có làm gì thì cũng không làm chuyện xấu xa như mấy người. Bạn karaoke còn đỡ hơn bạn đàng điếm!
- Người chồng (đã điên tiết): - Cái gì? Nói ai đàng điếm hả? Nói ai xấu xa? Bữa nay không nói rõ là không yên thân với tui đâu. Tui đã làm lơ nhiều lần rồi nghen!
- Người vợ (điên tiết không vừa): chuyện xấu xa của ai thì biết rõ đợi gì người khác nói. Ai cần ông làm lơ, mà đừng chọc tui giận tui phá hết ráng chịu!
Người chồng đứng phắt dậy, hai tay nắm chặt cố kềm nén: có giỏi thì nói đi, thử xem ai xấu xa hơn ai, đồ khốn nạn!
- Người vợ (tư thế cũng không kém): anh chửi ai chứ, đồ…đồ vô học mà giả bộ trí thức!
Người chồng đá văng cái ghế, ngay lập tức người vợ hét lên: có giỏi thì phá đi, đập đi. Tôi biết anh cũng muốn phá lâu lắm rồi mà, phá hết đi để đi theo con đĩ đó!
Một bạt tai nháng lửa, một sự yên lặng nặng nề và một sự vỡ oà khủng khiếp! Tiếng thét của người vợ chói lói vang lên nhưng tiếng được tiếng mất, lôi kéo những ánh mắt tò mò của hàng xóm kéo đến ngày một đông như xem hát. Trong từng đợt thét gào, hàng xóm nghe được đôi lời như nó vì con nhỏ bia ôm đó mà đánh tui, tui sẽ không để nó yên thân, gì gì đó. Còn người chồng cũng vùng vẩy trong vòng tay của hai ông hàng xóm, miệng thét lên chửi rủa đe doạ: đồ mất nết, đồ đĩ thoả, mày chết với ông, mày chết với ông!
Trong lúc đó, con gà đã xổng ra chạy biến tự đời nào!
Còn cái đám giỗ xem như cũng tan hoang!
Nhưng chuyện chưa xong!
Được gia đình hai bên và bà con lối xóm can gián nên chuyện cãi cọ vì con gà lắng xuống. Người chồng bỏ nhà đi mất còn người vợ thì vào buồng nằm khóc. Chị nức nở với mẹ: kỳ này con bỏ phứt cho rồi, không vợ chồng gì nữa. Cái thứ không tình không nghĩa đó con không tiếc đâu. Bà mẹ thở dài, không biết đồng cảm, thông cảm hay phản cảm!
Riêng người chồng sau khi bỏ nhà ra đi đã rủ một số bạn bè đi nhậu cho bớt buồn. Đúng là “Nhất tuý giải thiên sầu”, nỗi buồn giận theo rượu và theo sự động viên của mấy ông bạn đồng cảnh tuôn ra ồ ạt đúng kiểu “rượu vào thì lời ra”. Tiệc dần tàn, buồn giận đã vơi bớt nhưng khí tiết của các bạn nhậu chưa vơi nên cả nhóm định tính tiền rồi đi tiếp “tăng hai”, đúng lúc đó thì chuyện lại xẩy ra. Số là, một ông trong đám tự nhiên ứng tiếng “Bi giờ mà có cái lẩu cháo gà nấm tràm thì số zách hén!”. Lại gà, đã muốn quên mà còn gợi lại, cơn tức giận trong anh chồng bừng lên mặt. Mấy bạn nhậu hết hồn, đứng chết trân một lúc không biết xử sự ra sao. Chắc phải mất năm giây thì một bé vé số cứu nguy bằng cách mời mấy chú mua vé số. Một anh vui vẻ “Rồi mua, mua đi, có số 68 con gà nè, lỡ rồi, biết đâu có duyên thì sao!”. Anh ta chia mỗi người một tấm rồi hô “Nào, tới chỗ em Yến đi mấy cha”. Cả nhóm đứng dậy nhưng mấy tiếng “đàng điếm, xấu xa” chợt vang lên trong đầu khiến người chồng mất hứng “Thôi, mấy ông đi đi, tui về”. Nhét đại tờ vè số vào túi, anh bỏ đi.
Anh chồng về nhà trong tâm trạng khó chịu, bực bội. Không khí trong nhà vẫn còn nặng nề. Sự căng thẳng như sợi dây diều mỏng manh chỉ cần đợi cơn gió mạnh là đứt. Tưởng đâu cơn gió mạnh đó là tiếng khóc ri rỉ của thằng con trai từ đâu đó chạy về: mẹ, mẹ ơi con đói, mẹ cho con ăn gà nướng đi mẹ. Tiếng khóc của thằng con cứ rền rĩ không hề biết ba mẹ nó đang có chuyện khiến chị vợ càng điên: ăn ăn, chỉ biết ăn thôi đâu còn biết thứ gì khác. Sao không giỏi ra ngoài kiếm ăn đi lại phải quay về?! Chà nói mình chứ nói ai, người chồng nghiến răng, hai nắm tay nắm chặt, dứt khoát cởi phăng chiếc áo đang mặc quăng mạnh vào … cái máy giặt, rồi, bỏ ra ghế salông nằm gác tay lên trán, nhắm mắt, kệ cha sự đời! (Hú hồn, dây diều chưa đứt!).
Tiếng chuông điện thoại đột ngột vang lên, cắt đứt sự nặng nề thành hai mảnh. Reng reng, reng reng, tiếng chuông lanh lảnh, bình thường thì chị bắt máy nhưng lần này chị mặc kệ nên anh phải bò dậy. Giọng thằng bạn như đứt hơi: trúng rồi. Cái gì trúng. Tờ vé số hồi chiều. Độc đắc. Quăng mạnh chiếc điện thoại anh bổ nhào ra sau bếp, trời ơi, nó đâu rồi, nó đâu rồi. Anh cuống quít lộn tung đống quần áo dơ trong máy. Thấy thái độ của anh kỳ lạ, không nén được tò mò, thằng con hỏi: “Ba, ba kiếm gì vậy?” “Ba kiếm tờ vé số!”. Hầu như ngay lập tức, người vợ chạy ào đến, cuống quít không kém, nhưng chị là người thông minh, cẩn thận, nên chị cảnh báo: từ từ, có chắc anh để trong túi áo dơ này không. Nếu vậy thì phải từ từ kẻo không nó bị rách đó. Sau đó, người vợ cúi mình cẩn trọng lấy từng cái áo lớn áo nhỏ, quần to quần bé từ trong máy giặt đưa cho người chồng, còn người chồng cũng hết sức cẩn trọng, kính cẩn nhận lấy bỏ ra sàn. Nhìn cảnh hai vợ chồng đang nhịp nhàng chuyển quần áo, không ai có thể tưởng tượng được giữa họ từng có một trận chiến long trời lở đất!
Thời gian không lâu nhưng sao dài đằng dặc, mãi mới thấy nó (cái áo có tấm vé số) nằm chèo queo tận đáy thùng. Gần như chui hẳn đầu vào máy giặt hiệu TOSHIBA, chị nhẹ nhàng nhặt cái áo và nâng bằng cả hai tay như thể đó là chiếc long bào, thì thầm hỏi chồng: “Phải cái này không?”. Anh gật đầu, cũng kính cẩn cầm áo, thò tay vào túi, may quá, tờ vé số còn nguyên, không rách rời, chắp vá, chắc chắn có thể nhận một lần bằng tiền mặt. Anh ngước mắt nhìn vợ, mỉm cười âu yếm: may mà chưa giặt!
Trên đây là truyện ngắn, hay không phải là truyện … tuỳ, sao cũng được. Ban đầu tôi định đặt tên là “Chuyện xẩy ra vì một con gà”, sau đó lại đặt “Chuyện nọ xọ chuyện kia”, rồi lại “Chuyện gì cũng có nguyên nhân” nhưng sau cùng nhận ra chuyện này rất có hậu, rõ ràng là rất có hậu, nên đặt lại “Một truyện rất có hậu” cho gọn!
Huỳnh Lê Duy

Monday, June 25, 2007

CHIÊM BAO LẦN NỮA

I
Em thành thiếu phụ bao giờ nhỉ?
Nằm võng à ơi ghẹo đời mình
Đường đời xuôi ngược như vẫn thế
Em vẫn à ơi hát ru tình…

II
Em bỏ đi đâu thời thiếu nữ
Mộng mơ ném hộc tủ thời gian
Ngày tháng cuốn đời người như lũ
Em cũng đua cơm áo gạo tiền?

III
Dường như bóng em về bên giậu
Mắt cười. Nghiêng tóc xõa bờ vai
Ta giật mình trước trang thơ cũ
Ướt mồ hôi giấc mộng liêu trai
1998
MỸ DUYÊN

Wednesday, June 6, 2007

CHIỀU RA AO CÂU CÁ

Xô chiều rớt xuống áo sâu
Con chim bói cá rình lâu quên mồi
Ôm cần câu, ngó đất trời
Mặc cho cá ngáp
Mặc đời ngạo ta!
Xô tình rớt xuống bao la
Bờ tre lả ngọn, trăng sà đụng mây
Quắc cần câu cuộc tỉnh say
Mằm mơ thấy dính
Cả bầy chiêm bao
Cá trê đem nấu canh bầu
Còn bao thứ khác trả ao
Mỉm cười
Ngồi lâu tê cứng bắp đùi
Tỉnh ra...
Thôi đã đứt rồi lưỡi câu.
TRẦN DUYÊN TƯỞNG

NGUYỆT

Em cong mày nguyệt sơ khai
Hư không vắt mảnh hình hài tinh khôi

Viền môi thơm sợi tơ trời
Treo tình nhân thế ướt lời cỏ sương


Nguyệt rằm xõa tóc cài hương
Vén xiêm từ cõi vô thường bước ra
Đầy căng nhũ ngọc hoa ngà

Nửa khuya tuôn mật bóng tà ngã nghiêng


Dòng sông nhuốm ánh hạ huyền
Chờ đò trăng chở khoang duyên muộn màng

Quế cung ai để lá vàng

Rắc reo thương nhớ... mấy hàng thơ vương

NGUYỆT QUẾ