Thursday, July 5, 2007

Một chiều ở ấp Thanh Bình

“…Thuở ấy, cụ cố họ Nguyễn nhà ta từ Trảng Bàng lên đây lập nghiệp thì đất này còn toàn những bưng hoang, sình lầy. Từ sông Vàm Cỏ, theo rỗng Bà Cầu hoặc rỗng Cây Khô đi vào mới gặp đất giồng với rừng chồi lúp xúp. Nơi bến cập thuyền còn mọc đầy cây thốt nốt. Từ đấy, bến Thốt Nốt thành tên gọi. Cách bến chừng vài ba trăm mét, còn một cây gõ cổ thụ, mấy người ôm không hết, chính là nơi cụ cố dựng lên ngôi miếu này đây…”. Đấy là một phần câu chuyện của ông Nguyễn Văn Khuynh, nay đã 74 tuổi kể cho con cháu nghe trong mỗi dịp cúng miếu Bà. Vì ở cách bến thuyền không xa, nên miếu cũng được gọi tên là miếu Bà Thốt Nốt. Hỏi thêm ông Khuynh thì được biết, cụ cố mà ông vừa nhắc đến là cụ Nguyễn Văn Sao. Giọng ông trầm xuống:- “Nếu cụ còn thì năm nay đã 170 tuổi. Khi cụ dời Trảng Bàng lên đây, đã có 2 người con trong đó có ông Nguyễn Văn Nhờ mà tôi kêu bằng ông nội…”. Bây giờ, trong quần thể các ngôi miễu nhỏ ở chung quanh miếu Bà, còn có một ngôi đứng riêng chỗ dành thờ ông cố, người đã được con cháu tôn vinh viết chữ bảng đề tên là miễu thờ ông Cố Lục. Có lẽ chữ Lục có xuất xứ từ “Lục Tà”, tên gọi tỏ ý tôn trọng các ông thần cai quản về đất đai thổ trạch địa phương. Bên cạnh đó còn có các ngôi miễu nhỏ hơn thờ ông Tà, Chiến sĩ, Binh gia và ông Cọp. Ngôi nào cũng được xây theo lối miễu xưa, sàn cao hơn mặt đất chừng tám tấc có tường xây và mái ngói.

Ngày cúng miếu bà Thốt Nốt nhằm 15 và 16 tháng 4 âl. Cũng đủ các lễ nghi: khai hội vào đám, tế điện, cầu an vào ngày hôm trước. Hôm sau có phần hội rình rang với cả múa lân sư và múa mâm vàng. Điều khác xưa là, nay bà con trong ấp chỉ cúng chay, thay vì cúng mặn như hồi khai cơ mở đất. Đời sống dân cư đã khá hơn, nên phẩm vật cúng có phần thịnh soạn. Những mâm bánh trái, hương hoa bày la liệt trước bàn thờ, trong đó có những mâm bánh ít nổi tiếng của đất Thanh Điền, mâm bánh quy bột lọc nước lá dứa xanh biếc và trong veo, nên còn lộ ra màu vàng ươm nhân đậu. Cơm canh có giản dị hơn, gồm vài món canh, xào cùng 5 bộ chén đũa đã xới cơm đợi sẵn. Rượu trắng có chừng một xị gọi là một chút đưa cay. Bên bàn “Hội đồng ngoại” còn sắp xếp một bàn đầy hoa trái. Còn thêm mấy đĩa xôi trắng, chén gạo và chén muối. Có cả bát nhang và bình bông cắm cúc, huệ và sen. Nổi bật là một “mâm vàng” được chồng xếp lên nhau những thứ lễ vật bằng giấy nhiều màu và đẹp mắt.

Ngày cúng miếu Bà cũng là dịp sống dậy các ký ức xa xưa của người cao tuổi, và nhờ thế mà truyền lại các đời sau. Ấy là khi tới đất này, rừng bưng hoang còn đầy rẫy cọp beo, rắn rết. Người ta khai phá rừng hoang thành ruộng rẫy và chăn nuôi gia súc. Trong đêm lạnh rừng hoang, đôi khi còn thấy những cục lửa tự bùng lên, bốc cao tới ngọn cây rồi biến mất. Thời ấy làm gì đã biết đấy là những khí cháy có từ những hố hầm hoang đầy lá mục, than bùn. Vậy nên cứ coi là thần, ban đầu gọi tên là bà Hoả. Miếu thờ được lập nên thờ Bà. Sau có người mách Bà là một trong năm vị ngũ hành nên miếu Bà Hoả trở thành miếu Ngũ hành từ đấy. Dân cư ở ấp Thanh Bình, xã An Bình chuyên về trồng lúa. Theo kinh nghiệm lâu nay, cứ vào độ cúng miếu xong là trời chuyển mưa, nên dịp này cũng là lúc bà con rủ nhau đi bắt mạ. Chừng tháng sau là nhổ mạ lên cấy lúa. Giờ đây cả hai vụ lúa ở đồng đất Thanh Bình đã không làm thế nữa nhưng ai cũng nhớ thuở xưa ông bà vẫn còn giữ tập quán canh tác từ những miền quê gốc miền Bắc, miền Trung.

Muốn tới miếu Bà Thanh Bình, từ ngã tư Thanh Điền cứ theo lộ 787 hướng Gò Chai, qua trường Tiểu học Thanh Phước thì rẽ trái đi thêm khoảng 3 km. Từ lộ 787 xuyên qua ấp Thanh Trung đường đất đỏ trong mưa còn lầy lội khó đi, nhưng từ cổng ấp Văn hoá Thanh Bình trở đi, con đường trở nên êm thuận, đỏ au uốn lượn dưới những bóng tràm, dừa mát rượi. Đôi khi còn gặp những khóm cau vươn cao trong các vuông vườn. Bến Thốt Nốt xưa, giờ chỉ còn vài cụm cây thốt nốt già nua đang muốn nhoi lên khỏi những rặng tràm tơ vạm vỡ. Từ bến, theo rỗng Bà Cầu đã cạn vẫn có thể dùng ghe nhỏ lách đi giữa đôi bờ miên man xanh lúa xuân hè. Gần đấy còn có rỗng Cây Khô, cũng là đường cho ghe thuyền ra sông Vàm Cỏ. Chừng hơn cây số mới ra tới bờ sông. Vài năm nay, hai con “rỗng” này đã bị bồi lắng phù sa nên dù có lúa nhiều nhưng còn khó khăn do thiếu đường vận chuyển. Dân ấp chỉ còn mong Nhà nước hỗ trợ về phương tiện, giúp cho hai con rạch xưa trở lại lưu thông. Đấy cũng là con đường mà khoảng 150 năm trước, những cụ cố của các dòng họ người Việt đến nơi này khai hoang mở đất.

TRẦN VŨ

NỬA ĐÊM NGHE CÂU VỌNG CỔ

Nửa đêm người ca chi vọng cổ.

Tâm sự tôi hay tâm sự người

Tôi xuống “xề” gởi về ai đó.

Người đang buông “liu” đến cùng tôi.


Nửa đêm ta ca câu vọng cổ.

Chốn quê nhà dìu dịu vấn vương.

Ai đi lỡ nhịp chèo dang dở

Câu ca buồn thương thôi là thương.


Nửa đêm thôi đừng ca vọng cổ.

Ca chi để nỗi nhớ dâng dâng

Từng cung bậc cồn cào con nước đổ

Xé cánh bèo vùi dập giữa dòng sông


Nửa đêm chia buồn câu vọng cổ

Lắng thật sâu tiếng nấc bỗng trầm

Buông câu cuối nỗi lòng ai đó

Ta ngậm ngùi thả tâm sự vào đêm.
Trương Văn 7

ÁO TRẮNG CHIỀU MƯA

Chiều nay áo trắng bay bay
Trời mưa ướt áo, vải dày, vải thưa

Hỏi em ai đón ai đưa

Để ta đứng đợi từ trưa tới chiều.


Trời mưa ướt áo em nhiều

Để ta thấy lạnh chữ yêu một mình

Dáng mai mưa ướt ta nhìn

Sao em lẳng lặng làm thinh lạnh lùng


Mưa chiều ướt cả bâng khuâng

Áo em trắng giữa mưa dâng nhạt nhòa

Biết không,

mưa ướt lòng ta...

Trương Văn 7

BUỒN

Mặt trời
Mọc ở hướng ... “Tây”
Nhìn trăng
Trăng lặn
Nhìn mây
Mây ngừng

Nhìn trời
Tắt nắng mùa xuân
Nhìn đời
Xa lạ
Người dưng
Lạc loài

Cao lương mĩ vị
Ẩm ôi
Người đông phố thị
Đâu rồi người thân

Nhớ người
Một cõi mông mênh
Đất trời
Lặng tiếng
Đàn chênh dây đàn.

Trương Văn 7

MẸ

Nuôi con
Trông con lớn thêm một tuổi
...Mẹ quên
Mẹ cao thêm một tuổi
Quanh quẩn cơm áo gạo tiền
Ngẫm lại
Lưng mẹ còng
Tóc mẹ bạc

Đời mẹ nghèo !
Con hiểu !
Mẹ vất vả gieo neo

Hơn nửa đời người
Con chưa tròn chữ hiếu
Mẹ đi hết cuộc đời
Còn để lại nhớ thương

Càng nhớ mẹ
Mẹ càng đi xa
Càng thương mẹ
Mẹ càng xa
Con buông nhẹ
Một dấu chấn than
Cho nỗi nhớ

Cháy lòng.

Trương Văn 7

NGƯỜI ĐI XIN CHỮ

Truyện ngắn của Nguyễn Đức Thiện

Thoại quyết định tìm đến nhà thầy Bửu .

Nhà thầy nằm khiêm tốn ở một góc nhỏ của thị xã Tân An. Cách đây chừng chục năm, ngôi nhà cũ kỹ được cất từ thời ông nội của thầy nằm giữa một cánh đồng. Xung quanh trống trải, gió mát lồng lộng, Nhưng những năm gần đây, đường xá trong thị xã mở ra, thế là nhà thầy nằm ngay góc góc ngã ba đường. Nhà hai mặt tiền, mơ ước của không biết bao nhiêu người nơi phố xá. Thì để buôn bán làm ăn. Nhưng thày không buôn cũng chẳng bán. Cả hai vợ chồng chăm chút cho việc dạy dỗ học trò. Thày thì dạy văn cấp ba, còn vợ thày, một cô giáo tiểu học cũng sắp đến tuổi nghỉ hưu.

Thoại được mời vào phòng làm việc riêng tại nhà thầy Bửu . Trong phòng chỉ có một cái ghế bố dành để mỗi khi mỏi lưng, thầy ngả xuống đó nghỉ cho dãn xương, dãn cốt. Những kệ sách đứng sóng hàng trong căn phòng chật hẹp ấy. Bàn làm việc của thầy không phải là những cái bàn thông thường. Đó là cái bàn đá vừa dài, vừa rộng. Vậy mà cũng chật ních. Một bên là sổ sách, giấy tờ. Bên kia là hộp bút lông, giấy và nghiên mực. Trên bàn ấy được chia thành gianh giới: nửa bên này dành cho chữ quốc ngữ, bên kia, dành cho chữ Hán. Nhưng bên chữ Hán còn có thêm những tờ giấy với những chữ Việt viết theo lối thư pháp.

Thầy chỉ cho Thoại một chiếc ghế nhỏ:

- Anh thông cảm. Ngồi đó chờ tôi một chút.

Giọng thầy nhỏ nhẹ như thói quen nói với học trò.

Tết vừa rồi, nổi hứng Thoại có làm một đôi câu đối để khai bút. Thoại đã dùng máy vi tính trình bày khá đẹp nhưng khi treo lên tường cứ thấy nó chông chênh làm sao ấy. Đành rằng làm câu đối theo chữ quốc ngữ, nhưng đã là câu đối mà viết để treo tường, nhất định phải mang vóc dáng của lối viết cổ. Thoại thử ra tay, mang tất cả những tờ lịch có in chữ thư pháp ra để bắt chước. Song thật đáng thương cho Thoại, chẳng có hồn có vía gì khi những chữ được Thoại bôi ra trên giấy. Cũng vì mấy chữ đó mà cái tết năm con gà này Thoại cứ băn khoăn ra vào. Một hôm vợ Thoại có việc đi thành phố Hồ Chí Minh . Từ dưới ấy cô ấy điện về:

- Anh hả. Em tìm được người viết thư pháp rồi, anh đọc lại câu đối cho em. Em đặt người ta viết cho.

- Ai thế ?

- Em không biết. Nhưng em đang đứng ở chỗ người ta đây. Em có số điện thoại di động của người viết rồi. Em gọi, họ bảo, chút nữa họ tới.

- Em này. Thư pháp không phải ai cũng viết được đâu…

- Thôi mà. Anh cứ đọc cho em đi. Người ta dám mở tiệm viết chữ, không lẽ người ta không viết được sao.

Chiều vợ, Thoại đọc và dặn dò thật kỹ lưỡng từ cỡ chữ, cỡ tấm giấy, cách trình bày. Từ lúc đọc xong câu đối cho vợ, Thoại bắt đầu băn khoăn và có cả một chút ân hận nữa. Thoại ráng hình dung ra đôi câu đối mà vợ sẽ mang về. Chữ đen này, nền đỏ này. Khổ giấy đứng này. Hay lụa? Băn khoăn, hình dung chán rồi Thoại bắt đầu lo. Nhất định là vợ Thoại sẽ rất mừng vì đã làm được một việc có ý nghĩa cho anh. Nhất định khi về đến nhà, cô ấy sẽ trao tận tay Thoại đôi câu đối ấy và cười thật tươi. Nhưng lỡ câu đối ấy viết không được như ý Thoại, không ra được cái thần của câu đối thì sao? Có treo lên tường không? Không treo thì làm vợ giận, vợ hờn. Treo lên ngày nào cũng phải nhìn một thứ sản phẩm què cụt thì ngứa mắt. Mà treo lên rồi liệu có cách nào để hạ xuống. Coi chừng lúc hạ xuống, nhà cửa có khi còn nổi giông bão nữa kia. Câu đối khai bút vào lúc giao thừa kia mà. Nó hào sảng, khí phách, mỗi chữ được chắt ra từ con tim chớ bộ. Đâu có thể xem thường. Hai ngày vợ Thoại ở thành phố là hai ngày anh nôn nao khó chịu. Rồi vợ Thoại cũng về. Không thấy cô ấy cười. Tin lành rồi. Quả nhiên khi bước chân vào nhà vợ Thoại nói ngay:

- Mắc quá. Có vài chục chữ mà họ đòi tới gần năm trăm ngàn đồng…

Thoại giải thích:

- Chữ mà em. Các cụ phải luyện cả đời bây giờ mơi dùng bút mà kiếm sống được . Nhất là bây giờ phú quý sinh lễ nghĩa, chữ mới có chỗ để bán. Đâu có rẻ được, em…

- Các cụ nào đâu. Hắn còn trẻ mà. Chừng hai mấy, ba chục thôi hè. Cái miệng nói cứ leo lẻo. Trả bớt một chút nhất định không. Nên em không…

Thấy vợ buồn Thoại an ủi:

- Không sao đâu. Cứ để đó cho anh, thế nào rồi anh cũng nhờ người viết giùm.

Thoại bỗng nhớ đến thầy Bửu . Thầy là một cộng tác viên chuyên viết bài cho mục “ Đông Tây kim cổ” cho tờ báo nơi Thoại làm biên tập. Mục này thầy là người sáng lập. Thầy mà không viết chắc không ai viết được. Thầy sưu tầm tất cả những chuyện đã từng in trong sách, in trên báo, thấy có chuyện gì tác động đến dư luận chung hoặc có ý nghĩa giáo dục là thầy chép lại và sau đó là những lời bình thật ngắn nhưng thật sâu sắc. Mỗi tuần một chuyện. Gần chục năm nay, thầy không bỏ mục lần nào. Rồi tất cả những chuyện mà thầy viết ấy đã được in thành sách. Hôm cuốn sách in xong, thầy trịnh trọng mang đến tận toà soạn tặng Thoại. Thoại còn biết rằng: ngoài việc giảng dạy ở xứ này, thầy còn về thành phố Hồ chí Minh dạy chữ Hán và thư pháp ở trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn . Thầy không nói, nhưng ai cũng biết xứ này thầy là người hiếm hoi am tường chữ Hán. Vì thế mà hôm nay, Thoại có mặt tại nhà thầy Bửu . Khi gặp được thầy Bửu , nhất định anh sẽ có một câu đối từ ngọn bút của thầy . Với bút pháp hoành tráng nhưng phóng khoáng của thầy, đôi câu đối của Thoại sẽ làm cho căn nhà của Thoại ẩn chứa một nét văn hoá mà ai cũng thèm muốn.

- Anh nhờ mình viết câu đối hả?

- Dạ. Nhưng thầy có rảnh không đã.

- Rảnh thì không rảnh. Nhưng anh đã đến đây rồi không rảnh, cũng phải rảnh. Cộng tác với nhau ngần ấy năm trời không lẽ từ chối được anh sao.

Thầy cười. Nụ cười thật hiền lành.

- Anh đưa câu đối tôi coi thử?

- Thầy đừng cười nghe. Trước một người thông thạo như thầy mà đưa câu đối…

- Ua, anh không tự tin hả. Này, vào lúc giao thừa ấy mà, lòng người ta trong sáng nhất đấy. Bao nhiêu vất vả lo toan, bao nhiêu giận hờn bực bội mất sạch. Lúc đó, tâm hồn người ta giống y như hồi con nít. Toàn thấy vui. Không gợn buồn, lúc đó mà viết ra được cái gì là quý lắm đó. Nào anh đưa tôi…

Thoại rút từ trong chiếc cặp một mảnh giấy. Không hiểu sao, Thoại bỗng thấy mình bé nhỏ trở lại. Người thầy trước mặt anh mảnh khảnh. Dáng thư sinh còn lại trên thân hình mảnh khảnh ấy. Mái tóc đã điểm sương. Hai mắt sáng dưới cặp chân mày cũng vương nhiều sợi bạc. Cặp kiếng che bớt chút ít vẻ long lanh ở hai mắt. Trong lúc nói chuyện hình như để nhìn cho rõ hơn, thầy hơi cúi xuống để chiếu thẳng mắt mình với mắt người đối diện. Từ lúc đến đã mấy lần Thoại gặp ánh mắt thầy trong tư Bửu như vậy. Mọi khi thầy đưa bài cho Thoại, còn hôm nay Thoại đưa bài cho thầy. Anh đưa tờ giấy bằng cả hai tay và đầu hơi cúi xuống. Thầy Bửu cũng đưa cả hai tay đón tờ giấy mong manh của Thoại. Thầy xoay lại ngồi cho ngay với ngọn đèn bàn mới được bật sáng và hai tay nâng tờ giấy lên ngang mắt. Phút im lặng khá dài. Thầy bỗng buông:

- Được đấy. Một chút băn khoăn. Một chút răn mình. Nhưng chứa đựng một hoài bão lớn nữa… Anh muốn viết văn hả…

- Lực bất tòng tâm, thưa thầy …

- Biết thế là tốt. Này, tôi cũng có một câu đối tết năm nay đấy, nhưng nhớ trong lòng thôi không viết ra. Nó là thế này: “ Gặp năm gà, sớm hôm bươi móc, lượm từng hạt liệu có đầy chữ nghĩa”, “ Mang lốt chuột, đêm tối vật vờ, gom cả đời sao còn thiếu văn chương ”. Chữ nghĩa văn chương mà, cả đời làm cũng không hết việc, cả đời còn nợ đấy.

Thầy vừa nói vừa đứng dậy, lấy chai nước lọc, mở cái bù đài, ghé đổ vào nghiên mực, ở đó có cây mực nho. Thoại đỡ lấy:

- Thầy để tôi mài mực cho.

- Anh biết mài mực?

- Mài mực thôi mà. Sao lại không biết…

- Ay không được. Ngày xưa, tôi phải mất ba năm mài mực, thầy tôi, tức ông cụ thân sinh ra tôi ấy mà, mới cho tôi cầm bút viết lên giấy đó…

- Ba năm…

- Ba năm là còn ít đó. Thầy tôi là một ông đồ nổi tiếng ở xứ Tân An này. Một hôm ông có khách. Khách là một ông đồ già, hơn thầy tôi đến vài tuổi. Hai cụ gặp nhau xá dài, thắp hương án xong mới ngồi trò chuyện. Ngồi lâu lắm, tôi mới thấy thầy tôi đứng dậy vào thư phòng lấy ra một tờ giấy hồng điều. Lúc thầy quay vào nhà lấy nghiên mực, tôi sốt sắng đỡ lấy. Thầy tôi trừng mắt: “ Đâu đến lượt con”. Thế rồi trong lúc thầy tôi mài mực thì ông đồ kia ngồi vuốt râu, mắt nhắm nghiền lại. Khi mực mài xong, ông đồ kia mới đứng dậy, hướng lên hương án, xá ba xá mới cầm lấy cây bút. Người ông như trong một thế võ. Cây bút trên tay ông khua mấy vòng rồi hạ xuống nghiên mực. Lúc nhắc cây bút ra khỏi nghiên mực tôi có cảm giác như cả người ông đang toả ánh hào quang. Rồi tay ông đưa tới. Phút chốc thôi, ông hạ bút và từ từ ngồi xuống ghế. Ông giống như ông tiên râu dài ấy. Đến giờ tôi còn nhớ. Trên bàn thờ thầy tôi, tức ông cụ thân sinh ra tôi đó, chữ ấy vẫn còn đó. Lúc sắp qua đời, thầy tôi dặn đi dặn lại: bàn thờ thầy không cần phải có hình ảnh gì cả, một chữ đó thôi là được. Chữ “ Trí”. Hôm ấy, thầy tôi xá ông đồ mấy xá liền. Thầy tôi lộng chữ ấy vào khung kiếng treo ngay chính giữa nhà. Sau này tôi có hỏi, thầy tôi bảo: “ Đất nước đang trong thời loạn. Chữ gì cũng không hợp bằng chữ “trí”. Chiến tranh tâm làm sao yên , đức làm sao trọn, thiện thì không lẽ trốn chạy cái ác. Phúc, lộc, thọ sao được khi bom đạn nổ uỳnh oàng khắp nước Nam ta. Nhẫn để kẻ cướp nó đè đầu cưỡi cổ mình sao. Chữ trí để răn bảo người ta lấy cái trí mà lo cho đất nước sớm được thanh bình. Có thanh bình rồi chữ gì cũng có hết.” Nghe thầy tôi dạy mà thấm thía. Các cụ nhà mình là như thế đó. Viết một chữ thôi cũng phải đắn đo, chiêm nghiệm đã rồi mới viết. Đến tận bây giờ tôi vẫn còn nhớ cái dáng ông đồ bạn vong niên của thầy tôi ngồi nhắm mắt vuốt râu. Cái chữ nó quan trọng lắm. Người ta thành người được hay không là nhờ cái chữ. Thế mà bây giờ có người chẳng coi cái chữ ra gì cả. Hôm vừa rồi, có một cậu học trò của tôi đến đây. Cậu ấy học tôi hồi còn nhỏ. Rồi đi kháng chiến, bây giờ làm chức to lắm ở mãi trên Thành phố kìa. Đến bằng xe du lịch hẳn hoi. Tưởng lâu ngày nhớ thầy thì đến thăm thầy , ai dè, cậu ấy đến xin chữ. Cậu ấy chỉ xin một chữ “ tâm” thôi. Cậu ấy bảo tôi: “ Em mới cất xong cái nhà. Phòng khách nhà em lớn lắm. Thằng bạn người Campuchia bây giờ làm quan đầu tỉnh bên ấy, tặng em một cặp ngà voi, mỗi ngà dài cả thước. Em đã trưng ở giữa nhà. Rất oai. Nhưng vẫn thiếu một cái gì đó.Thế là em nhớ tới thầy . Chữ bây giờ bán ngoài chợ thiếu gì. Nhưng em không thích. Em thích chữ của thầy . Nó hoành tráng lắm. Mà em chỉ lấy mẫu thôi. Từ mẫu ấy, em kêu thợ đúc đồng đến đúc cho em, dát vàng lên nữa. Thầy thử hình dung xem đôi ngà voi oai vệ, đỡ lấy chữ “ tâm” dát vàng lộng lẫy, thì còn gì bằng. Nó sẽ đập ngay vào mắt bất cứ ai khi bước chân vào phòng. Và đương nhiên nhìn cặp ngà voi, nhìn con chữ là thấy sự uy nghi, đáng nể, thưa thầy ”. Nghe cậu ta nói, tôi suýt nữa thì bật cười. Trời đất, chữ tâm mà thể hiện sự uy nghi sao? Cậu ta xin chữ “ tâm tâm cậu ấy lại như thế thì còn gì là tâm nữa.

Thầy Bửu bật cười. Nhưng rõ ràng tiếng cười không thể hiện được cái vui, mà có cái gì ấm ức chất chứa trong tiếng cười ấy.

- Rồi thầy có viết không? - Thoại hỏi.

- Viết. Viết chớ. Nhưng không phải chữ “ tâm” mà là chữ “ đức”. Tôi viết như thế để cậu ta hiểu như thế nào thì hiểu. Nhưng sâu xa hơn thì cậu ấy phải hiểu là “ đức hạnh”. Tôi muốn bảo cậu ấy phải xem lại đức hạnh mình trước. Bây giờ tôi mừng khi thấy đến trường nào cũng có hàng chữ dăng ngang đập vào mắt người ta: “ Tiên học lễ, hậu học văn”. Cậu ta đến xin tôi chữ tâm” mà chẳng hiểu chữ tâm ấy dùng để làm gì…

- Rồi sao nữa thầy . - Thoại hồi hộp hỏi.

- Cậu ta không đến lấy mà sai cậu lái xe đến lấy. Cậu lái xe chẳng biết ất giáp gì, mang về. Ngày hôm sau chiếc xe du lịch lại đậu ở cửa nhà tôi. Bước chân vào tới cửa cậu ta đã oang oang. “ Sao thầy lại viết chữ này. Thầy làm tôi bị rủa oan. Ông ấy không nhận, biểu tôi kêu thầy viết chữ khác, đúng chữ mà ổng biểu. Thầy viết đi, lát tôi quay lại”. Nét mặt cậu ta hằm hằm. Khổ, gần mặt trời cậu ta tưởng mình cũng là mặt trời chắc. Tôi bảo cậu ta: “ Nhờ cậu về báo lại, tôi chỉ có thể viết một chữ ấy thôi.” Rồi không thấy cậu ấy đến gặp lại tôi nữa. Cám ơn. Viết chữ cho người không đáng viết thì khổ tâm lắm. À này, tôi có nguyên một bài suy ngẫm về chữ đó. Để tôi lấy anh đọc nghe:

Thầy Bửu gác cây mực nho lên thành nghiên, đến bên đống giấy tờ phía góc bàn bên kia, lật một đống giấy tờ và lấy ra một tờ giấy cũng mỏng như tờ giấy mà Thoại đưa cho thầy . Thoại đón lấy. Trên mặt giấy là những con chữ chạy thẳng hàng. Những nét chữ đều đặn, sáng sủa và từng nét rõ ràng:

“ Mấy triệu năm mông muội/ Mới tìm thấy chữ cho ngừơi/ thế mà thấy/ Có người cứ mang chữ ra mà đùa/ Tưởng như đồ ăn sẵn/ Tưởng như mớ rau, miếng thịt/ Bỏ lên bếp mà nấu, nướng, chiên, xào/ Nên chữ cứ rẻ như bèo./ Lại có người dùng chữ/ Như dùng gái trong nhà thổ/ Đĩ thõa điên cuồng/ Buông ra là quên sạch./ Rồi cũng có người/ Dùng bạc triệu mà đi mua chữ/ Mang về đặt trên bàn thờ/ Coi như linh vật/ Nhưng lại quên cúng kiếng mỗi ngày/ Nên chữ cứ lạnh tanh./ Chao ôi/ Ai biết/ Nếu con chữ ngấm vào người/ Thành xương, thành thịt/ Thành máu thành hồn./ Mới là chữ/ Mới là chữ/ Mới là chữ biết không?

Thầy Bửu tiếp tục câu chuyện:

- Anh thấy không, nhà tôi có hai cái mặt tiền. Nhiều người bảo tôi: thời buổi này phú quý sinh lễ nghĩa, người ta thích chơi chữ, sao thầy không mở một cửa hàng bán chữ để kiếm thêm thu nhập. Không biết người ta sao, chứ tôi thấy bán chữ của mình như bán linh hồn mình vậy. Anh thấy nguyên cái chuyện mài mực để viết chữ này là cả một kỳ khu rồi. Mực không được đặc, không được loãng. Đặc hay loãng đều viết không thành chữ. Bây giờ viết chữ Việt theo lối thư pháp cũng giống như viết chữ Hán ấy. Nét nào ra nét đó. Vui buồn, nóng nảy nó hiện ra nét chữ. Mà nói cho cùng đâu chỉ là viết chữ Hán hay chữ Việt lối thư pháp, chữ thường ngày của mình cũng vậy thôi. Nét chữ nét người mà…

Thoại lạnh người. Một năm anh sài không biết bao nhiêu là chữ. Chữ của mình và chữ của người, nhưng đã bao giờ anh nghĩ mình sài chữ ra sao. Thầy Bửu đã mài xong nghiên mực. Thầy kéo ống đựng bút về trước mặt mình, cúi xuống để mắt có thể nhìn kỹ hơn nhưng cây bút và tìm chọn một cây cho thích hợp. Đã rút ra mấy cây rồi nhưng sau khi vuốt vuốt những búp lông đầu ngọn bút, hình như thầy vẫn không ưng ý. Còn Thoại đã bắt đầu thấy lúng túng vì không còn biết nói chuyện gì với thầy nữa. Trong căn phòng nhỏ không mấy sáng sủa của thầy chỉ có một ngọn đèn. Ánh sáng không vung vãi ra khắp căn phòng, mà chỉ tụ lại trên mặt bàn. Tất cả những gì trên bàn hiện ra rõ mồn một. Lúc mới đến, Thoại ngỡ thầy chất chồng lên bàn đủ mọi thứ khiến cho nó rối lên, lộn xộn. Nhưng khi câu chuyện của thầy càng lúc càng say thì mọi thứ trên bàn kia bỗng trở nên có lớp lang trật tự đàng hoàng. Góc bên dành cho chữ quốc ngữ thì những chồng bản thảo và những tập sách. Góc bên dành cho chữ Hán và chữ Việt theo lối thư pháp thì ống bút, nghiên mực và những tấm giấy đủ kích cỡ. Ngay chính giữa hình như để phân biệt giữa Việt văn và Hán văn, là một bức tượng đồng nhỏ, đứa trẻ mục đồng tay cầm roi đuổi trâu, tay kia nâng một cuốn sách và đang chăm chú đọc. Thầy đã một lần khoe với Thoại, đó là bức tượng học trò đặt đúc, tặng thầy . Không phải mục đồng thổi sáo mà mục đồng đọc sách. Ý thầy là thế mà.

- Anh Thoại này, anh có nhớ trong Chuyện Đông Tây kim cổ của tôi có nhắc đến ông Phạm Quý Thích ở thế kỷ 19 không?

- Thầy viết nhiều quá, tôi không nhớ nổi.

- Cũng phải. Tôi kể và tôi viết nhiều khi còn quên. Nhưng chuyện Phạm Quý Thích thì tôi không quên đâu. Năm 1813, ông nghè Phạm Quý Thích được nhà vua cử làm giám khảo cuộc thi ở Nghệ An. Chấm thi xong ông về dinh nghỉ. Quan lại, sĩ tử đến vấn an ông rất đông. Ông đang đau yếu nên phải dựa gối nằm nghiêng mà tiếp khách. Lúc luận bàn văn chương, ông mới đọc cho những người quanh mình nghe một bài văn ông làm ca ngợi Quan Vân Trường cầm đuốc trong truyện Tam quốc diễn nghĩa. Mọi người nhao nhao khen. Nhất là khi ông đọc hai câu:

Quỷ Tào Tháo bình sinh thẹn muốn chết

Thần tướng quân muôn thuở vẫn như còn.

Có một người bảo với ông rằng, cũng chuyện ấy, ở Nghệ An đã có một cậu bé đã làm một bài văn. Phạm Quý Thích kêu người ấy đọc thử nghe chơi. Nghe đến hai câu:

Nhen lòng son rực rỡ, trời đất năm canh

In chiếc bóng lênh đênh, gió sương bốn vách.

Phạm Quý Thích vội vàng nhổm dậy chắp tay nói với mọi người: “ Cậu bé ấy hơn tôi nhiều”. Cậu bé ấy là Nguyễn Hồng Hàn, mười ba tuổi, ở huyện Can Lộc. Anh Thoại này, anh có biết vì sao ông Phạm Quý Thích lại phục cậu bé như vậy không. Phân tích thì dài nhưng chỉ nói với anh một ý thôi. Phạm Quý Thích phải mượn Tào Tháo mới nâng được Quan Vân Trường lên. Còn Nguyễn Hồng Hàn, chẳng cần hạ ai mà Quan Vân Trường vẫn oai phong lẫm liệt. Nhưng cái này quan trọng hơn: khi Phạm Quý Thích tỏ lòng thán phục cậu bé Hàn thì mọi người càng phục ông hơn. Khiêm nhường làm ông càng thêm cao đạo. Chính vì thế mà tết rồi tôi có làm một đôi câu đối, nhưng chỉ để nhớ nằm lòng thôi, không dám viết ra, sợ người đời nhìn thấy, bảo tôi cao ngạo…

Thầy Bửu đã lựa xong cây bút. Thầy vung tay lên toan hạ xuống chấm vào nghiên mực. Thoại vội đứng dậy đỡ lấy tay thầy:

- Dạ thưa, thôi ạ.

- Cái gì thôi?

- Dạ thôi, thầy đừng viết nữa. Cho tôi xin lại mảnh giấy…

- Sao thế ?

Thoại lẳng lặng không nói thêm lời nào và đưa hai tay, cúi đầu nhận lại mảnh giấy từ tay thầy Bửu.

Lát sau, Thoại chào thầy ra về. Chiếc xe honda của Thoại từ từ lách ra khỏi cổng. Trước ngã ba, Thoại ngưng lại một lát rồi cho xe đi thẳng con đường trước mặt hướng nội ô thị xã Tân An.

Thầy Bửu đứng nhìn theo, gật đầu cười. Trên trán thầy lấm tấm mấy giọt mồ hôi.

NĐT

TRƯƠNG VĂN 7 - NGƯỜI HÁT RONG BẰNG THƠ MÌNH

(Nhân đọc tập thơ MỘT MÌNH HÁT VỚI ĐÊN KHUYA của Trương Văn 7 sắp được nhà xuất bản Hội nhà văn ấn hành trong năm 2007)
NGUYỄN ĐỨC THIỆN

Tôi biết Trương Văn 7 đã lâu. Anh cùng tôi làm những kịch truyền thanh chuyện nhà nông trên đài Phát thanh- Truyền hình Tây Ninh. Anh viết những vở kịch ngắn diễn trong khoảng 15 phút. Ít ai có thể làm được như anh. Từ lúc có chương trình mở đầu cho đến khi kết thúc anh viết chừng hơn 100 kịch ngắn như thế. Tôi còn biết anh đã học xong chương trình cao đẳng diễn viên khoa cải lương trường Sân khấu điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh. Số phận nghiệt ngã, không cho anh theo nghề diễn viên, đành khiêm tốn mở một hiệu cắt tóc ở phố huyện Dương Minh Châu, Tây Ninh. Tưởng anh an phận với nghề làm đẹp cho người ta, thế mà bỗng nhiên anh mang tới cho tôi gần 100 bài thơ. Không trách được, với một người bỗng nhiên đam mê công việc mà người đời thường bảo ngẩn ngơ, ngơ ngẩn này, thì trong gần 100 bài kia bỏ bớt đi nhửng bài chưa xứng gọi là thơ, còn lại 39 bài trong tập thơ này nhất định sẽ gây được ấn tượng với những ai yêu thơ.

Không ngoa khi dùng hai chữ ấn tượng để nói về thơ Trương Văn 7. Có cảm giác anh đã miết vào nỗi riêng tư của mình để mà làm ra thơ. Về mẹ anh viết: Càng nhớ mẹ/ Mẹ càng đi xa/ Càng thương mẹ / Mẹ càng xa/ Con buông nhẹ/ Một dấu chấm than/ Cho nỗi nhớ / Cháy lòng (MẸ)

Cũng như bao nhiêu người làm thơ khác, những nhớ thương, hờn giận, buồn… luôn là cái cớ để người thơ thể hiện cõi lòng mình. Trương Văn 7 cũng vậy: Nhớ người/ Một cõi mông mênh/ Đất trời/ Lặng tiếng/ Đàn chênh dây đàn ( BUỒN). Những nỗi buồn nhiều khi giằng xé con người, nhưng ngẫm lại, chính những nỗi buồn ấy nhiều khi lại làm cho người thơ tỉnh táo và vững vàng hơn trong cuộc sống đương thời. Bằng thơ Trương Văn 7 tâm sự rằng, nhiều hờn giận quá, nhiều nỗi buồn quá, muốn bán, muốn cho, muốn tặng, nhưng hoạ có điên, người ta mới chuốc lấy sự thừa thãi kia của người thơ. Thế thì còn cách nào hơn, người thơ gom về hết, làm vốn mà bán mua chính mình. Mà khi bán mua thì sao chẳng có lúc đắt, lúc rẻ. Đắt hay rẻ thì cũng chính là mình vậy. Chính sự chấp nhận ấy là sự cảm thông cho tất cả những ai chất chứa những nỗi buồn mà không hề một chút bi quan, uỷ mị. Thậm chí có thể mang cả nỗi buồn biến thành một sự hài hước có thể khóc khi đang cười và có thể cười khi đang nẫu ruột buồn.

Trương Văn 7 khá linh hoạt khi làm thơ. Anh không phụ thuộc vào những con chữ mà làm cho những con chữ linh hoạt thể hiện những nỗi niềm tâm sự. Cũng là tình yêu, nhưng mỗi lần khắc hoạ, Trương Văn 7 có cách nói riêng: Mưa chiều ướt cả bâng khuâng/ Áo em trắng giữa mưa dâng nhạt nhòa/ Biết không,/ mưa ướt lòng ta...( ÁO TRĂNG CHIỀU MƯA) hay :Phím đặt vào dây tơ mỏng mảnh/ Tay rung rung từng bậc, từng cung./ Anh nhờ có em mà trỗi nhạc/ Bổng trầm xao xuyến cõi nhân gian. (HỒN BAY BẢNG LẢNG)

Và cũng có lúc rất lẳng lơ: Ơi! Ngu ngốc bàn tay/.Thả vào chơi vơi/ Ơi ! Cái nhìn ngu ngốc/ Ngó vào chơi vơi/ Sao em rạo rực/ Tìm anh/ Cũng chẳng một lời/ Mà vời vợi/ Có nhau (HƯ KHÔNG)

Có lúc thành mê mẩn, say mê: Say em ngàn giấc vẫn say/ Để anh say thật dài./ Hứng từnggiọt/ em/ Và say … (SAY)

Không phải vô tình, Trương Văn 7 đặt tên cho tập thơ đầu tay của mình là MỘT MÌNH HÁT VỚI ĐÊM KHUYA. Có lẽ cho đến nay, dù không được hát như một diễn viên được đào tạo, nhưng trong anh lúc nào cũng ngân lên những câu hát. Mỗi một câu hát là một tâm trạng. Điều đáng nói là chính từ những câu hát cất lên trong lòng mình mà anh trải được những tâm sự của mình cho mọi người thấy và cùng thông cảm:

Ai đánh rơi phím đàn ?

Ai đánh rơi bài thơ ?

Tôi tham lam nhặt

Trọn nỗi buồn tôi mang.

Anh giống như một kẻ hành khất mà tham lam. Khi không lượm vào mình những cái mà người ta làm rơi, làm rớt, để rồi chính từ những cái rơi rớt ấy lại thành nốt nhạc để hát lên nỗi buồn. Những câu hát buồn ấy hình như cứ theo đuổi anh: Dây bầu đã héo/ Trời hạ đã chuyển mùa/ Tiếng mưa/ Thôi lộp độp./ Vậy mà!/ Tiếng đàn bầu/ Từng giọt/ Từng giọt/ Văng vẳng bên tai/ Em/ Và tôi.(GIÀN BẦU).

Hay như: Mặc cho tiếng chuông chùa cứ mãi vang/ Nửa đêm./ Anh quên mất chốn nào là cõi Phật/ Tiếng dế cũng hoá linh hồn/ Nửa đêm./ Tiếng con vạc sành/ Là bản tình ca ( ĐÊM HÁT 1)

Hoặc là:

Sương rơi rồi đó

Sương nhỏ giọt trên đầu ngọn cỏ

Tắm mát ưu phiền một ngày đợi đêm đông

Cỏ ngậm sương

Cỏ hát

Gió lượn mình

Gió hát

Không cần nhạc đệm

Say sưa

Quên mất chị Hằng

ĐÊM HÁT 2

Có lẽ chỉ hát lên, Trương Văn 7 mới thấy được chính mình:

Suối ... ngừng reo

Hoa ... ngừng nở

Anh thập thò đếm lạnh trên môi em

Đôi môi thức

Sương núi dày đặc trên chồi non

...Lảnh lót tiếng chim mừng buổi sáng.

ĐÊM HÁT 3

Sẽ còn thấy Trương Văn 7 hát trong nhiều bài thơ khác trong tập này. Tôi hình dung Trương Văn 7 như một người hát rong. Với cây đàn trên tay, anh lang thang khắp nơi và hát. Có ai nghe không, không cần biết, Trương Văn 7 cứ hát lên để được tâm sự với người, với đời bằng những câu thơ anh viết.

Dẫu sao thì đây cũng là tập thơ đầu tiên của Trương Văn 7. Nếu lượm lặt trong đó sao cũng còn những khiếm khuyết. Mà bây giờ, với không khí mới khi làm thơ, cách thể hiện nào cũng là cách riêng thì khiếm khuyết chắc gì đã là khiếm khuyết. Không riêng thì làm sao tạo ra được một tác giả. Nếu có thể xin coi 39 bài thơ trong tập thơ này của Trương Văn 7 là một sự đóng góp cho thơ Việt Nam.

N.Đ.T

TRƯƠNG VĂN 7

Sinh năm 1969

Quê: DƯƠNG MINH CHÂU, TÂY NINH

Chỗ ở: khu phố 2, thị trấn Dương Minh Châu, Tây Ninh

TL: 0919 168 926

Wednesday, July 4, 2007

Hoa tím bằng lăng

Mùa này, hoa bằng lăng nở rộ. Mấy hè phố ở Thị xã, thị trấn Hoà Thành, thị trấn Dương Minh Châu tím ngát bằng lăng khiến người ta không khỏi bâng khuâng trước màu tím buồn đến nao lòng. Hoa bằng lăng từ những bờ sông, từ mấy làng quê Nam bộ đi vào thi ca có lẽ còn lâu đời hơn hoa phượng vĩ. Bằng lăng cũng nở hoa đúng vào dịp đầu hè. Vậy mà, khi nói đến mùa hạ, người ta thường chỉ nhắc loài hoa có màu rực lên như lửa, cánh hoa như cánh bướm xoè ra mà bỏ quên một loài hoa mang màu kỷ niệm tuổi học trò. Ngày trước, khi mà giống bằng lăng ngoại chưa được trồng nhiều ở xứ mình, thi thoảng lắm mới thấy một vài cội bằng lăng rừng nép mình lặng lẽ ở một góc vườn hay bơ vơ đứng bên vệ đường quê vắng vẻ. Cách nay khoảng gần 10 năm, có lẽ huyện Dương Minh Châu là nơi trồng nhiều bằng lăng rừng nhất. Bằng lăng rừng được đưa về trồng ở mấy đoạn vỉa hè trước trụ sở nhiều cơ quan của huyện này. Rồi nhiều nhà dân cũng trồng bằng lăng, có cả quán cà phê mang tên Bằng Lăng. Bằng lăng rừng không chỉ trồng để ngắm hoa, mà còn được nhiều người thích vì có những bộ gốc, rễ mang dáng dấp bonsai rất đẹp. Bằng lăng rừng có hai loại, loại lá thon dài cho bông màu tím ngắt, còn loại lá hình bầu dục cho bông tím nhạt hơn, tô điểm thêm những đốm trắng như hoa lan rừng Ngọc Điểm. Nếu phượng sẽ đẹp hơn với nắng trưa hè thì ngược lại, bằng lăng lại quyến rũ lòng người vào những sáng tinh sương hoặc sau những cơn mưa chiều vừa dứt hạt bởi màu tím rưng rưng rất thơ, rất là con gái. Hồi còn đi học, mấy cô bạn cùng lớp kháo nhau rằng những ai yêu màu tím thì tâm hồn đa cảm đa sầu, dù thuỷ chung nhưng tình duyên lại rất lận đận truân chuyên. Sau này, gặp lại hai cô bạn học từng mấy lần rủ nhau đạp xe ra con hẻm bên cạnh Bệnh viện Đa Khoa Tây Ninh hái bằng lăng, ngẫm lại thấy câu nói vu vơ ngày xưa sao mà đúng lạ! Bây giờ, khu vực gần Bệnh viện Đa khoa Tây Ninh đã được quy hoạch lại, đổi thay quá nhiều. Cội bằng lăng xưa đã cho mấy mùa hoa tuổi học trò cũng không còn nữa… Bằng lăng rừng còn có hương thơm rất dịu, rất khó quên. Nhớ lúc còn đi"gõ đầu trẻ", bình hoa trên bàn nơi bục giảng thi thoảng lại có mấy cành bằng lăng được cậu học trò nghèo vùng quê bẻ bên đường đem vào lớp cắm vội, vụng về. Vậy mà nhớ mãi! Bây giờ bằng lăng đã được trồng trên nhiều hè phố, dù là giống lạ. Có một con đường dù đã có tên nhưng vẫn được không ít người gọi là đường bằng lăng. Bằng lăng trên phố tuy giống mà lại khác bằng lăng rừng, cây cũng khác mà hoa cũng khác. Màu hoa bằng lăng trên phố có vẻ như đài các hơn, đoá hoa, cánh hoa đều to nhưng sắc tím dường như không trọn vẹn, không thăm thẳm đến tận cùng như sắc tím hoa rừng. Thi thoảng lại bắt gặp một vài cây bằng lăng trên phố cho hoa màu hồng phấn, nhìn cũng lạ, cũng xinh, nghe cũng thích nhưng tiếc rằng đã lỡ yêu màu tím hoa rừng từ lâu lắm!
TRẦM QUỲNH

I am đàn bà


... Một thằng bé được mới sinh còn nguyên cả dây rốn nối với bánh rau bị bỏ vào một cái dành lót rơm treo lên nhành cây trong rừng. Thị đi kiếm mật ong nhìn thấy cái dành bèn lấy xuống.

Nhìn thấy thằng bé tím ngắt bị kiến bu đầy người, cắn thủng cả mí mắt thị hét lên rùng rợn. Tiếng hét dội vào rừng cây vọng lại thành tiếng hú thê thảm. Sau sự sợ hãi là sự đau đớn chất cùng phả ra từ bản năng làm mẹ của thị. Thị khóc vật vã. Khóc kiệt cùng. Một lát sau nước mắt thị khô kiệt. Thị cũng không hiểu sao nước mắt thị mau kiệt thế.
Thị lấy con dao phát rừng mang theo đào cái huyệt nhỏ ngay dưới gốc cây treo thằng bé. Xong thị cởi chiếc áo mặc ngoài đã sờn vai bọc thằng bé lại. Thị đặt lại bánh rau lên bụng thằng bé, như cái lúc nó nằm trong bụng mẹ. Tay thị đụng vào chim thằng bé. Bỗng thị giật thột. Cái chim thằng bé cưng cứng. Không tin vào cái cảm giác thoáng qua ấy, thị dùng cả 5 ngón tay phải sờ vào chim thằng bé. Cái chim còn cứng. Cái chim còn cứng thì thằng bé còn sống, thằng bé còn sống. Thị vội cởi nốt chiếc áo lót rồi ôm thằng bé sát vào ngực thị.
Một cuộc luân hồi được nén trong ngực thị. Thị cảm nhận sự ấm dần lên trên cơ thể thằng bé. Và nó đã tìm được vú thị từ lúc nào. Nó mút chùn chụt. Hai bầu vú thị còn sót lại ít sữa của đứa con thứ 3 còi cọc, nó đã hơn 2 tuổi mà thị cũng chưa lỡ cai.
Thị ôm chặt thằng bé vào ngực mang về nhà. Chồng thị tá hoả tam tinh khi nhìn thấy hình hài thằng bé. Rồi gã sầm mặt xuống vì biết chắc rằng nhà gã lại có thêm một miệng ăn nữa. Gã vừa lầu bầu vừa đi đun nước sôi. Gã hò con bé lớn lên 8:
- Còn ngây ra đấy mà xem cái gì. Đi ra trạm xá, bảo bà Miêu đến cắt rốn cho em.
Con bé cười toe toét:
- Cắt rốn cho em hả bố.
Thị cũng cười. Cái nét cười làm mặt thị rạng rỡ vô cùng. Thị lựa đặt thằng bé xuống gường nựng nọt:
- Con nằm xuống đây mẹ đi tìm tã cho con nào.
Con bé lớn vừa chạy vừa hò:
- Mẹ cháu bắt được em cháu ở trên cây. Cây đẻ ra em cháu, còn nguyên cả dây rốn với bánh rau.
Khi bà Miêu chạy từ trạm xá đến nhà thị thì nhà thị đã chặt ních người. Cả làng đổ xô đến xem thằng bé do cây đẻ ra. Bà Miêu rẽ đám người đến chỗ thằng bé, miệng gào to:
- Thời buổi này là thời buổi nào mà còn tin là cây đẻ ra người hử? Không chịu chăm nom dạy dỗ con cái tử tế rồi mới sinh ra cơ sự thế này đây.
- Nào nước sôi chưa, mang lên đây.
Bà Miêu thao tác rất thiện nghệ. Nhoáng cái thằng bé đã được cắt rốn và tắm táp sạch sẽ. Da thằng bé đã đỏ lại, chỉ còn những nốt kiến cắn trên mắt khiến thằng bé không mở được mắt ra. Bà Miêu có vẻ khoái trí với sản phẩm của mình hôn chụt vào má thằng bé một cái rồi quay sang hỏi vợ chồng thị:
- Tính sao? Nhà rách như tổ đỉa, lại thêm miệng ăn nữa rồi lấy gì mà đổ vào mồm? Hay là để tôi bế nó ra trạm xá hỏi xem có nhà nào không có con, cho người ta.
Thị giãy lên như đỉa phải vôi:
- Không có đâu. Trời đã cho nhà chúng tôi rồi, thì nhà tôi phải nuôi nó chứ.
Bà Miêu lại tiếp:
- Đấy là ý ả, còn ý chàng là sao? Không thuận lòng rồi thì đánh nhau.
Chồng thị nhát gừng:
- Mỗi con mỗi của thêm giàu. Nghèo của nhưng giàu con cũng được. Nhà tôi nhặt được nó thì nhà tôi nuôi.
Thằng bé được đặt tên là Đức. Bốn anh em nhà nó có tên là: Sáng, Láng, Nhân, Đức. Nó bú sữa cặn của thằng anh thứ 3 là Nhân nhưng cũng lớn vổng lên.
Thêm một khẩu ăn nhưng nhà thị không được chia thêm mẩu đất nào. Ông chủ tịch xã nói: Không nuôi được thì đem vào rừng mà trả cho cây chứ lấy đâu đất ra nữa mà chia cho nhà chị. Người đẻ được chứ đất có đẻ được đâu. Vợ chồng thị không vì thế mà ghét bỏ thằng bé. Có phần nó được chiều chuộng hơn vì là bé nhất.
Vợ chồng thị tay lam tay làm nổi tiếng trong làng. Trên đất đai nhà thị lúc nào cũng có cây mọc nhưng đất cằn quá không cho năng xuất cao. Thế là chỉ đủ cái bỏ mồm. Bọn trẻ thì đang tuổi lớn ăn rào rào như tằm ăn rỗi. Suốt ngày cúi mặt trên đất kiếm cái ăn mà không biết thiên hạ đã thay đổi quá nhiều.
Khi thằng Đức lên 5 thì làng quê thị ở có một sự đổi thay lớn. Ấy là cái thứ đàn bà bao đời quanh quẩn xó bếp bỗng đâu được xuất ngoại đi ra nước ngoài làm ăn. Nhìn người trong làng trong xóm tiễn đưa nhau đi máy bay, rồi lại đưa nhau ra bưu điện lĩnh tiền. Có tiền thì xây nhà, mua tivi. Vợ chồng thị thi thoảng cũng được mời đến ăn liên hoan. Đêm vợ chồng nằm với nhau cũng có mơ. Mơ con Sáng, con Láng được đi xuất khẩu. Thân con gái ở với cha mẹ nghèo khổ quá rồi, mơ cho con bớt khổ một chút. Còn thằng Nhân, thằng Đức thì thôi, ở lại quê cày ruộng cũng được.
“Con Sáng, con Láng con ơi”. Thị bỗng nức nở hờ con. Phận đàn bà sao khổ quá con ơi. Mẹ những mong đi làm đất khách quê người để có tiền cho các con mẹ ít nhiều. Ai ngờ mẹ lại mắc tội tày đình thế này. Ới các con ơi. Mẹ đã đập đầu mà chết nhưng thương các con đứt ruột nên không đành chết con ơi. Các con hiểu cho mẹ, mà tha tội cho mẹ nhé. Mẹ đập đầu xin các con tha tội.
Ủa, xỉ, xỉ xỉ... Tiếng la ó ầm lên trong phòng giam. Thị biết là họ đang la ó thị. Thị khóc gào lên trong đêm làm mất giấc ngủ của họ. Thị kệ thây. Thị cứ hờ tên con ra mà khóc. Khóc cho tan sự đau đớn chất chứa trong lòng. Sao ông trời lại đầy ải thị khốn khổ đến thế này. Nào thị có ăn ở ác độc với ai đâu. Đời thị khốn khó từ tấm bé nên thị chẳng bao giờ mơ sự sung sướng ở đời. Nhưng cũng chẳng khi nào thị lại nghĩ rằng mình bị vướng vào vòng lao lý như thế này.
- Câm mồm, kẻ nào làm ồn thế. Câm mồm đi không thì chuyển sang biệt giam.
Thị ngừng khóc. Người vừa nói với thị là một người đàn ông trung tuổi đi cùng với nhân viên trại giam. Nhân viên trại giam ủa xỉ với người đàn ông một tràng dài rồi bỏ đi. Còn lại mình người đàn ông trung niên, vẫy thị lại gần:
- Tôi là phiên dịch. Hôm trước luật sư đã nói với chị rồi mà chị không chịu hiểu à? Nay tôi nói lại với chị. Chị nên giữ sức khoẻ và sự minh mẫn để mai còn ra toà. Chị cũng nên suy nghĩ xem để nói gì trước toà. Chị phải tự biện minh cho chính mình. Biết đâu đấy chị lại trắng án, được về với con. Nghe lời tôi đừng có kêu khóc nữa.
Thị nằm im để nghe ngóng chính mình. Cơ thể thị mệt rã rời nhưng đầu óc thị lại thật tỉnh táo. Ý nghĩ của thị quay trở về cái làng của thị.
Lại một đợt người ta về làng tuyển phụ nữ sang Đài Loan làm nghề giúp việc. Chồng thị bảo:
- Hay u em cứ đi tuyển xem sao. Xa cách 2 năm nhanh mà. Cái nhà dột quá rồi chẳng trụ nổi mấy mùa mưa giông nữa đâu.
- Ừ, tôi cứ thử đi tuyển xem sao. Nhưng lấy đâu ra tiền đặt cọc cho người ta.
- Thì cứ tuyển đã, rồi tính sau.
Người đàn bà hay lam hay làm, bắp chân to như cây chuối hột, bàn tay to như cái quạt nan, nước da nâu rám, hàng răng hạt na đều tăm tắp, mắt bồ câu đen láy. Ai mà không chọn người đàn bà như thế. Cái khó là ở khoản tiền đặt cọc. Nhà thị mà có khoản tiền to thế thì thị đã sửa được nhà khỏi phải đi Đài Loan. Có một người trong đoàn đi tuyển đến nhà thị ngó xem rồi đưa ra giải pháp, họ cho nhà thị vay tiền đặt cọc rồi hàng tháng thị gửi tiền về trả dần.
Buổi tiễn đưa thị ngập tràn nước mắt. Bốn đứa con thị ôm thị gào khóc. Thị rứt ruột ra đi.
Sang Đài Loan thị làm giúp việc cho một gia đình có người bị liệt. Người bị liệt vốn 1 năm trước là ông chủ tài hoa, giàu có, không may bị tai nạn ô tô. Đã chữa trị hết nước hết cái rồi. Nay nằm im trên gường như một cái thây sống. Nhất cử nhất động phải có người giúp. Bà chủ cũng tầm tầm tuổi thị. Cái tầm tuổi còn tràn đầy sức lực với vốn kinh nghiệm đã khá. Hai đứa con nhà chủ cũng tầm tuổi Sáng, Láng nhà thị. Nhìn thấy chúng, thị nhớ con nấc nghẹn thở. Một tuần đầu thị được bà chủ huấn luyện sử dụng các thiết bị trong nhà. Thị cũng chẳng ngờ mình lại sáng dạ thế. Thị học được hết cách sử dụng các dụng cụ, thiết bị gia đình. Toàn những thứ tối tân chứ có phải thường đâu. Bà chủ còn dạy cách lau dọn nhà, cách nấu ăn. Đặc biệt là cách chăm sóc ông chủ nằm liệt gường, cách thay quần thay áo, cách lau mặt, cách cho ăn... Sau một tuần huấn luyện, thấy thị nhanh nhẹn, bà chủ có vẻ bằng lòng lắm, bèn để thị ở nhà một mình chăm sóc ông chủ.
Thời gian biểu của gia đình bà chủ thế này. Buổi sáng bọn trẻ dậy đi học vào lúc 7 giờ. Bà chủ dậy lúc 8 giờ, tắm và trang điểm đến 9 giờ thì đi làm. Thị và ông chủ được rốt kín ở trong nhà. Bọn trẻ học thông tầm đến 3 giờ chiều về nhà, đứa nào về phòng đứa đấy. Bà chủ về không có ca cữ gì, khi thì 6 giờ tối, khi thì 11 giờ đêm. Thị không hiểu là trước khi thị đến làm giúp việc cho ngôi nhà này thì ông chủ được chăm sóc thế nào? Những đứa con có đến thăm bố thường xuyên không? Chứ từ khi thị đến thị thấy rằng bọn trẻ con chẳng quan tâm gì đến cha chúng đang nằm trên giường bệnh. Thi thoảng mẹ chúng thúc giục lắm thì chúng mới vào phòng cha, nắm cái tay chiếu lệ, hôn cái hôn chiếu lệ, nhìn cái nhìn chiếu lệ. Thị rất ác cảm với cái sự chiếu lệ của chúng.
Còn người vợ thì vẫn còn thương xót chồng lắm. Khi thị mới đến thì thị không phải tắm cho ông chủ. Ngày cuối tuần bà chủ tự tay tắm cho chồng, thị chỉ giúp bà chủ đưa ông chủ vào nhà tắm. Khi thị mới đến thị thấy đêm nào bà chủ cũng vào ngủ với chồng. Khi thị mới đến thị hay bắt gặp bà chủ đứng nhìn ông chủ ngủ rồi lặng lẽ khóc. Khóc rất lâu rồi đi uống rượu say mèm. Thị nhìn bà chủ thương xót vô cùng. Thị muốn an ủi bà chủ nhưng thị chả nói được mấy câu tiếng nước ngoài thành ra lại thôi.
Công việc cuốn thời gian trôi đi vèo vèo. Giờ thì thị thạo việc lắm rồi. Thị làm việc nhà chỉ trong 1 tiếng đồng hồ. Còn thời gian mênh mông đến chiều thị chả biết làm gì. Thị đi lên đi xuống, thị ngó vào phòng nọ phòng kia. Thị bật ti vi để xem hình. Cũng chỉ hết một tiếng. Thị ngáp rồi nằm ườn ra ghế đệm, tận hưởng cái sự sạch sẽ êm ái. Thị muốn ngủ cho thời gian trôi nhanh đi nhưng thị chả bao giờ ngủ ngày thành ra cũng không ngủ được. Chán, thị đi vào phòng ông chủ, là để nhìn thấy người, chứ ngày qua ngày thị với cái bóng của thị giam trong 4 bức tường.
Ông chủ mở mắt mình đăm đăm lên trần nhà. Thôi thì có người rồi, nói đi vậy. Có nói tiếng gì trên đời thì ông chủ cũng có nghe được đâu. Thị mỉm cười nhìn vào mặt ông chủ:
- Có biết gì không? Chả biết gì rồi?
- Sao mà đến cơ sự này? Mới chưa đến 40 mà suốt ngày phải nằm trên gường thế này khó chịu lắm nhẩy?
- Trước đây sao không chịu dạy con cái? Chúng ích kỷ quá, chả chịu chăm nom bố một tí. Chúng mà chịu chăm nom bố thì khéo mà khỏi bệnh chứ nhẩy.
- Nằm nhiều vậy có mỏi lưng lắm không? Tôi bóp chân bóp tay cho nhé.
- Cái khoản này thì chả có trong hợp đồng đâu nhưng thôi tôi cũng chả biết làm gì, tôi bóp chân bóp tay cho anh nhé.
Cái cách xoa bóp này thị đã được mẹ thị truyền cho từ hồi thị còn bé. Thị làm rất bài bản. Xoa bóp từ đầu trước, bấm các huyệt, giật tóc. Rồi từ xương ức toả ra các dẻ xương sườn. Từ các mỏm xương đến các đầu mút ngón tay ngón chân. Thị còn lật xấp ông chủ xuống để xoa bóp lưng, bấm ngón tay vào từng đốt sống. Lại còn nhổ bão kêu sần sật. Xong, thị lật ông chủ nằm ngửa. Thị nhìn vào mắt ông chủ xem nó có biểu hiện gì không?
- Thích không? Chả thích quá đi ấy chứ. Thích thì gật đi để bận sau tôi còn làm cho. Vừa nói thị vừa gật gật cái đầu.
- Chán quá, mắt chẳng còn tí hồn nào thế kia. Thôi nhắm mắt ngủ đi. Thị lấy ngón tay khép mắt ông chủ lại.
Thế là thị có cách giải khuây. Ngày nào thị cũng nói chuyện và xoa bóp cho ông chủ. Thị cũng chẳng nhớ là vào lần thứ bao nhiêu thì thị bỗng nhìn ra mắt ông chủ đã có hồn. Ấy là khi thấy thị bước vào, hai con ngươi trong mắt ông chủ nó hướng về phía thị:
- A thì ra mắt cu cậu có tinh rồi. Nhận ra nhau rồi phải không? Thế để chị xoa bóp cho nhé. Hôm nay chị sẽ xoa kỹ vùng đầu. Cái đầu là quan trọng lắm đấy. Bộ chỉ huy đây. Biết đâu 2 năm chị làm ở đây thì cu cậu đứng dậy đi được đấy. Khi ấy phải thưởng to cho chị để chị xây cái nhà mái bằng nhé.
Hôm ấy cái đôi tròng mắt có tinh của ông chủ đã khiến thị vui vẻ lắm. Thị vừa xoa bóp cho ông chủ thị vừa hát. Thị chỉ thuộc mấy bài hát ru con. Thị hát được một tí thì nhớ con quá thế là nước mắt rơi tong tong lên ngực ông chủ. Một lát nguôi ngoai đi thị lại bật cười:
- Này không phải chị thương cu cậu đâu nhé. Chớ tưởng bở. Ấy là chị nhớ chúng quá. Con Sáng 14 tuổi rồi đấy. Khi chị về chị sẽ mua cho nó một đôi vòng tàu, làm của hồi môn cho nó đi lấy chồng. Con Láng 13 rồi, thằng Nhân lên 8, thằng Đức lên 6. Cái thằng Đức ấy chị nhặt được nó trên cây đấy. Chị thương bố cu nhà chị lắm. Chị đi thế này, bố cu nhà chị thèm chị lắm đấy. Bố cu nhà chị khỏe mạnh lắm, chỉ phải tội cứ hùng hục như trâu ấy. Có lần chị bảo rồi đây, cái chuyện tình cảm chứ có phải đi cày đâu mà bố nó cứ phải đổ mồ hôi thế. Bố cu nhà chị bảo: Cái số tôi nó vất vả, thế u nó không thấy đến ăn cơm tôi cũng đổ mồ hôi à? Thôi xong rồi. Chị xoa bóp cho cu xong chị cũng vã mồ hôi ra đây. Chị đi tắm cái đã.
Thị lật người ông chủ nằm ngửa lên, Như mọi bận thị lấy ngón tay trỏ khép hai mi mắt ông chủ lại. Bỗng thị giật mình: Ồ cu khóc à? Cu khóc được rồi à. Khóc được là biết rồi đấy.
Buổi tối thị rất muốn khoe với bà chủ là ông chủ đã biết khóc rồi. Biết khóc rồi là có cảm giác con người rồi, không vô tri vô giác nữa. Vậy mà thị chẳng biết diễn đạt thế nào.
Thời tiết nóng nực, oi ả. Làm xong việc nhà áo thị ướt đẫm mồ hồi. Thị định bụng xoa bóp xong cho ông chủ thì mới đi tắm. Vào phòng ông chủ cái thị gặp trước tiên là đôi mắt của ông chủ như cầu xin thị điều gì.
- Vậy gì cu? Định nói gì? Nóng hả? Biết rồi. Trời nóng lắm nhưng bà chủ bảo không được nằm điều hoà nhiều, không tốt, không tốt.
- Nào, để chị xoa bóp cho nhé. Ối giời ơi người đầy rôm sẩy thế này. Được tắm một cái là nhất đời đấy. Hay là chị bảo bà chủ không đóng bỉm cho cu nữa nhé. Chị sẽ vào xem cu có buồn tiểu không thì chị cho đi.
- Ối giời cái lưng đỏ lựng thế nào. Ngứa lắm hả, để chị gãi cho. Vậy nhé. Chị cũng định tắm cho cu nhưng chị sợ bà chủ không đồng ý rồi lại trừ lương của chị. Mắng chị cũng được, chửi chị cũng được nhưng đừng trừ lương của chị. Chị sợ nhất là bị trừ lương đấy. Số tiền hai năm làm ở nhà cu trừ lãi tiền đặt cọc vay của người ta đi thì cũng chẳng còn được là bao đâu. Thế mà nhà chị ai cũng nghèo, ai chị cũng muốn cho một tí.
- Hai thằng cu nhà chị cứ đến mùa hè là người sặt rôm sẩy. Chị cứ phải vò lá kinh giới với lá đào tắm cho chúng. Tắm hai bận là khỏi sạch rôm. Hay là để chị lấy khăn ướt lau lưng cho cu nhé. Chị hiểu và thương cu lắm nhưng chị không thể làm trái lời bà chủ được.
-Nào, lau cái mặt trước này. Cái mặt này cũng khôi ngô đấy chứ. Chưa bị ốm chắc ối cô mê đây.
Tối đấy bà chủ về muộn nhưng thị cứ một mực chờ. Thị chờ bà chủ về để nói với bà chủ rằng ông chủ nhiều rôm sẩy trên người, phải cần tắm thường xuyên chứ không thì cái sẩy nó nẩy cái ung, khốn đấy.
Bà chủ về, thị đã ra hiệu đủ kiểu mà bà chủ không hiểu gì cả. Thị bèn dẫn bà chủ vào trong phòng ông chủ, vạch áo ông chủ lên cho bà chủ xem. Thị quan sát thấy bà chủ không tỏ vẻ gì cả. Thật bình tĩnh bà chủ còn gỡ luôn cả bỉm của ông chủ tô hô trước mặt thị. Bà chủ nhìn cái đống bùng nhùng trong bỉm nhăn mặt gớm giếc rồi kéo chiếc chăn mỏng phủ lên. Bà chủ ra ngoài gọi điện thoại. Lát sau người của công ty đưa thị sang Đài Loan làm việc gọi điện cho thị:
- Bà chủ nói là bà chủ muốn chị thay bỉm, rửa ráy, tắm táp cho ông chủ. Chị sẽ được trả thêm 50 tệ nữa. Chị có làm được không?
Nghe thấy được trả thêm tiền thị mừng ú. Thị đồng ý luôn. Và thị biết việc thị phải làm ngay là gì. Thị vào trong phòng ông chủ thay bỉm rửa ráy sạch sẽ cho ông chủ.
Sáng hôm sau khi cả nhà bà chủ đã đi làm hết, việc đầu tiên là thị vào phòng ông chủ:
- Cu, hôm nay chị sẽ không đóng bỉm cho cu nữa. Cu hợp tác với chị nhé. Cứ 3 giờ chị cho cu đi tiểu một lần. Còn đi ị? Khó nhỉ. Hay là khi nào buồn cu khóc báo cho chị một tiếng. Ối dào chị lại buồn cười rồi, cu mà biết khóc khi buồn đái, buồn ị thì đã khôn rồi chứ chả dại thế này đâu. Thôi chị sẽ tự tìm cách vậy.
- Cu nằm đây chờ chị dọn dẹp xong nhà cửa rồi chị vào xoa bóp cho, xoa bóp xong thì mình đi tắm.
Thị vui. Thị vui lắm. Một tháng được thêm 50 tệ nữa là được hơn 100 ngàn đồng Việt Nam rồi. Còn bao nhiêu tháng nữa nhỉ. Một, hai, ba, bốn... Mình đã ở được 10 tháng rồi, còn 14 tháng nữa. Thế là được thêm hơn 1 triệu nữa. Mình sẽ mua cho các con mấy bộ quần áo đẹp.
- Xong rồi, chị dọn nhà xong rồi. Chị xoa bóp cho cu nào. À hôm nay chị vui lắm, chị hát cho cu nghe nay. Chị hát bài dân ca quê chị nhé: Con cò là cò bay lả bay la. Bay từ cửa phủ bay qua là qua cánh đồng. Tình tính tang là tang tính tình. Cô mình rằng cô mình ơi rằng có nhớ là nhớ anh không. Hay không cu. Này cu biết không? Chị ít học lắm. Chả được học như người ta đâu nên chị cũng chả thuộc mấy bài hát đâu. Chị toàn thuộc bài con cò thôi. Những bài hát này ngày xưa mẹ chị hay hát nên chị nghe nhiều thành thuộc đấy. Chị lại hát bài con cò nhé: Con cò mà đi ăn đêm. Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao. Ông ơi ông vớt tôi nao. Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng. Có xáo thì xáo nước trong. Chớ xáo nước đục đau lòng cò con.
- Xong rồi nằm chờ chị vào pha nước tắm nhé.
- Nào để chị bế cu vào nhà tắm nào.
- Thế cu ngoan lắm. Mát không? Chị kỳ cọ cho sạch sẽ nhé. Chết nỗi cái chân bé đi rồi này. May mà chị xoa bóp cho thường xuyên đấy.
- Cái lưng nằm nhiều là mỏi lắm đây chị cọ cho mềm ra này. Cái nách không cọ sạch là hăm đây. Còn...
Kỳ đến cái chỗ “con giống con má” thì thị ngập ngừng. Mặt thị đỏ dựng lên. Thì “cu” là cái tên thị tự đặt cho ông chủ để tỏ sự thân thiết và cảm thông với hoàn cảnh của ông chủ, để công việc của thị tốt hơn mà thôi. Thị nghĩ, thị làm công việc chăm sóc người bệnh mà lại không có tình cảm thương mến người ta, thì khó mà chu đáo được. Nhưng “cu” là ông chủ, là người đàn ông thực thụ chứ đâu phải là thằng Đức mới sinh bị treo lên cây, mà thị được phép sờ nắn vào cái chỗ đấy. Người đàn ông thực thụ thì thị chỉ biết mỗi có bố cu nhà thị. Nói thực chứ, làm vợ kém một năm nữa là tròn mười lăm năm, đã có 3 mặt con với nhau mà nào thị dám sờ mó cái chỗ đó của chồng. Thì cũng nhì nhằng vậy thôi, chứ ngượng chết đi được... Nhìn thì chả sao, đằng này tay phải mó vào kỳ cọ. Mà không kỳ cọ thì sao sạch sẽ được. Rồi hăm ra, lở loét tội lắm. Thôi thì... Thị giấu mặt phía sau lưng ông chủ, thò tay vào háng ông chủ kỳ. Thần hồn nát thần tính, tay thị kỳ lia lịa mà chả biết là đang kỳ chỗ nào. Thì chỗ đấy cả, sạch là được.
Thị lau khô nước trên người ông chủ, lấy máy sấy xì tóc ông chủ:
- Tắm sạch sẽ trông cu bảnh bao phết. Chịu khó nóng một tí nhé. Để đầu ướt đi ngủ là hay bị nhức đầu lắm đấy.
- Thôi được rồi, cu ngủ đi. Chị không đóng bỉm cho cu đâu. Thi thoảng chị sẽ vào để cho cu đi tè.
Cái ngày đầu tiên không đóng bỉm cho ông chủ thị chỉ cho ông chủ đi tiểu vào bô được có một lần, còn thì ông chủ cứ “ô tô ma tic” ra quần. Thị phải tất bật lau chùi và giặt rũ.
Cũng cái ngày đầu tiên bà chủ để cho thị tắm cho ông chủ thì tối đến bà chủ kiểm tra cơ thể ông chủ rất kỹ, xem thị tắm rửa có sạch sẽ không? Có nâng niu ông chủ nhẹ nhàng không? Bà chủ kiểm tra rất kỹ chỗ ấy. Thị đứng sau xem bà chủ kiểm tra mà giật mình đến thột: May quá, hôm nay mình đã kỳ chỗ ấy. Vì xấu hổ mà không kỳ thì lại bị trừ tiền mất. Bà chủ vỗ vào vai thị hài lòng.
- Này cu, cu ngoan rồi đấy. Mấy ngày nay không “ô tô ma tíc” ra quần lần nào. Lúc nào buồn quá mà chị chưa kịp vào thì cũng cố nhịn một tí nhé. Không có thì chị khổ hơn đấy. Chị cứ phải giặt rũ nhiều thì chị mệt, chị không xoa bóp cho cu được đâu.
- Chị biết rồi. Khi nào cu “buồn” là cái cu nó săn lại, chỉ săn một tẹo thôi, không như hai cu tí nhà chị đâu, nó săn tít lại cơ.
- Cu ơi, may có cu đấy không có thì chị buồn chết. Mang tiếng là đi nước ngoài mà chị có biết mặt mũi nước ngoài nó thế nào đấy. Đến nhà cu là chị ở luôn tịt trong nhà. Chả bao giờ bà chủ cho chị ra khỏi nhà. Đến bước chân xuống cầu thang chị cũng chưa xuống. Chị cũng chẳng được nói chuyện với bà chủ với bọn trẻ. Hì hì, mà có bảo chị nói thì cũng chả hiểu gì nhau đâu. Ở quê chị bảo, ông nói gà bà nói vịt ấy mà. Có nghĩa là ông nói tiếng gà, bà nói tiếng vịt. Phải nói chung một tiếng mới hiểu nhau chứ. Chị nói cu chả hiểu chị nói gì đúng không? Nhưng mà không sao, miễn là người nói có kẻ nghe. Không có cứ lẩm bẩm nói một mình người ta lại bảo là bị rồ.
- Cu ơi, chị nói cho cu bí mật của chị nhé. Ngày nào chị cũng đứng phơi ra ban công để hít khí giời một tí đấy. Không có thì cớm nắng mà chết đấy. Cái cây không có nắng là chết lăn quay.
- Ôi, sung sướng quá. Sung sướng quá. Hôm nay chị được tặng quà. Con gái cu đấy. Chị không biết tại sao nó lại cho quà chị. Sáng nay lúc nó đi học thì chị đứng trong bếp, nó vào bếp chắp tay cúi chào chị. Nó còn nói cái gì nhưng chị không hiểu, xong nó rút từ trong cặp ra một gói quà được bao giấy hồng và buộc nơ rất đẹp đưa cho chị. Nó ra hiệu là cho chị. Chị chưa mở ra đâu. Chị chưa bao giờ được tặng quà như thế này đâu. Có, có củ khoai mớ rau thì hàng xóm cũng hay cho nhau. Con gái cu cũng tình cảm lắm đấy. Có hôm chị gặp nó cứ đứng nhìn cu ngủ rồi khóc. Chị đã nghĩ không đúng về nó lúc mới đến.
- Nào đi tắm nào. Bà chủ ngày nào cũng kiểm tra chị có tắm cho cu sạch sẽ không? Chị cẩn thận lắm phải không cu.
- Cu...
Thị giật thột khi dưới tay thị có sự khác lạ. Thị đã kịp dừng lại tiếng kêu. Chả lẽ thị lại kêu... ối gượng chết. Thế có nghĩa rằng ông chủ đã có cảm giác. Cảm giác của ông chủ đã sống lại rồi. Cảm giác đã sống lại rồi thì có nghĩa là ông chủ đã sắp khỏi bệnh. ý nghĩ thúc đẩy hành vi. Thị cẩn thật sờ vào con giống của ông chủ. Mềm, vẫn là mềm rồi. Nhưng khi nãy rõ ràng là thị thấy có cảm giác nó động đậy và cưng cứng. Thị nắm tay vào con giống và nín thở để nghe ngóng, như cái cách thầy lang bắt mạch cho con bệnh. Tích tắc tích tắc... Thị nghe rõ tiếng đập thùm thụp của trái tim thị. Và thị cũng cảm nhận thấy sự lớn dần lên của con giống.
- Cứng rồi cu ạ. cứng rồi cu ơi. Con giống của cu cứng lên rồi đấy. Tôi nay chị sẽ nói với bà chủ điều này. Cố lên cu ơi. Cu mà đứng dậy được thì chị được bà chủ thưởng to đấy. Nào thôi ngâm nước lâu rồi.
Con giống con má của mẹ ơi. Mẹ truyền sự yêu thương của mẹ qua làn da con. Con có cảm nhận được điều ấy không. Rồi khi nào lớn khôn con sẽ truyền lại sự yêu thương của mẹ cho một cô gái qua con giống này của con. Con giống con má của mẹ ơi.
Thị đã vừa lấy khăn lau vào con giống con má của ông chủ vừa hát bài hát của quê thị. Bài hát này của các bà mẹ khi tắm cho con trai và ngắm nhìn cái chim của nó.
Thị cũng không hiểu vì sao thị lại vui mừng đến vậy. Cũng chẳng phải vì thị mơ tưởng đến số tiền thưởng mà bà chủ sẽ cho thị khi ông chủ khỏi bệnh. Mà biết đâu khi ông chủ khỏi bệnh thì bà chủ sẽ không thuê thị nữa. Ở với gia đình ông bà chủ này, ngoài việc thị bị dốt trong nhà thì thị chẳng bị ngược đãi gì. Qua nhà khác rồi chẳng biết thế nào. Có lẽ vì thị thấy tội nghiệp cho ông chủ quá. Đàn ông bị ốm trông tội nghiệp lắm. Bố cu nhà thị chỉ mới hu hi sốt, bỏ cơm ăn cháo mà thị đã thấy thương lắm, chăm sóc cho thật chu đáo. Còn người đàn ông xa lạ này, không họ hàng thân thích máu mủ gì nhưng thị đã chăm sóc cho một năm nay rồi. Thế là đã được một năm rồi đấy. Một năm nay người đàn ông được thị cho ăn uống, tắm rửa, hát ru, xoa bóp, nói chuyện... thì có khác gì người thân đâu. Như thằng cu Đức, chỉ có mấy phút ôm nó vào ngực mà nó đã luôn hồi thành kiếp người, để nó thành con thị. Khi nó ốm nó đau thì nỗi lo của thị cũng không hề khác gì ba đứa kia. Khi nó khoẻ mạnh, lúc nó cười thì thị cũng vui chẳng khác gì với ba đứa kia. Nay cái người đàn ông xa lạ kia cũng như người ruột thịt của thị.
Thị đã không thể nói cái điều định nói cho bà chủ biết. Một phần vì thị chẳng biết diễn đạt thế nào, phần nữa vì thị cũng thấy xấu hổ. Cái chuyện tế nhị tế tam này.
- Chị kể cho cu nghe con gái quê chị nhé. Con gái quê chị ai cũng chân to, chân to mới bám đất. Tay cũng to, tay to để làm. Con gái quê chị chẳng có đi học cao đâu, biết đọc biết viết rồi thôi. Trồng lúa trồng khoai thì chẳng cần học nhiều làm gì. Ngày xưa con gái quê chị chẳng ai đi xa khỏi làng. Con trai cũng không đi ra khỏi làng. Khi còn chiến tranh thì có nhiều người đi ra khỏi làng. Đi bộ đội ấy mà. Có người không phải đi bộ đội cũng xung phong vì thích đi khỏi làng. Đi nhiều lắm nhưng về ít thôi. Họ hy sinh. Có bà mẹ Gái ở đầu làng có chồng và 5 con trai đi bộ đội cả. Họ hy sinh tất mẹ Gái ở một mình cô quạnh. Mẹ được cả làng đùm bọc. Nhà có bát canh ngon cũng mang biếu mẹ. Khi đất nước hoà bình mẹ Gái được nhà nước phong tặng mẹ anh hùng, được nhà nước xây nhà cho. Có nhiều người đến thăm mẹ lắm. Mẹ còn được lên cả tivi. Mỗi lần lên tivi thì ngực mẹ đeo những cái lấp lánh. Ngưòi làng bảo là vàng đấy. Người làng cũng không hay đến nhà mẹ như xưa. Làng chị người ta cũng khái tính lắm. Người ta hay bảo thấy người sang bắt quàng làm họ. Nhưng cái chính là người ta ngại những cái lấp lánh trên ngực mẹ. Người ta bảo vàng thì phải tránh xa ra. Rồi mẹ Gái chết. Trên ngực mẹ người ta vẫn đeo những cái lấp lánh. Bỗng một hôm mộ của mẹ bị đào lên. Chuyện động giời. Ở làng chị từ xửa xưa không bao giờ có chuyện động giời như vậy. Lâu sau người ta bắt được một tên bán vàng giả. Hỏi cung hắn khai hắn đã đào trộm mộ mẹ Gái để lấy những cái lấp lánh trên ngực mẹ mà hắn tưởng là vàng. Những người bắt hắn cả cười chê hắn ngu dốt quá, không biết thế nào là huân chương thế nào là vàng. Hắn bị bỏ tù mấy năm vì tội ngu dốt đó. À, con gái làng chị cũng có người phải bán xới đấy. Mẹ chị bảo không được dùng từ ra đi, cái ngữ đấy phải dùng từ bán xới, cái giống đàn bà đi hoang. Cái chị đấy hơn chị một tuổi, xinh gái lắm. Chồng chị ấy chết mấy năm rồi mà bỗng dưng lại có chửa đẻ ra thằng cu rất đẹp. Cả làng dè bỉu, chửi bóng chửi gió, thấy mặt chị ấy đâu là gọi con chó hoang. Chị ấy cắn răng chịu đựng chờ người đàn ông của chị ấy nhận vợ nhận con nhưng người đàn ông ấy đã không dám nhận, thế là chị ấy phải bế con đi khỏi làng. Chị ấy cũng gan dạ lắm, chứ mà chị thì có lẽ chị cắn lưỡi mà chết mất.
- Cu, ánh mắt cu nhìn chị sao thế? Cu muốn nói gì với chị à? Hay là cu buồn tiểu.
Thị lấy bô hứng vào nhưng con giống con má nó không tiểu. Nó cất cao đầu gật gù. Thị nhìn đăm đắm vào nó như bị thôi miên. Nó đã lớn bổng lên mập mạp như củ dong giềng. Người thị bỗng nóng bừng. Thị thấy máu trong người thị chảy rào rào. Thị lại thấy hai cái tý thị co tròn lại, phía cửa mình nước đang ào ra. Thị bỏ chạy ra khỏi phòng. Thị ngồi xuống nghế và thấy da mặt mình tê bần.
- Cu, cu tiểu đi. Được rồi. Hôm nay ngoan. Cu đừng trêu chị nhé. Cu làm chị tủi thân lắm đấy. Chị cũng là con người, cũng khao khát nhớ nhung. Hồi chị ở nhà thi thoảng có cán bộ phụ nữ huyện về nói chuyện. Họ bảo con người khác con vật là phải có lý trí. Có lý trí thì sẽ chiến thắng dục vọng. Ban đầu chị cũng tin nhưng sau thì chị chả tin. Chị đẻ 3 con rồi, không muốn đẻ nữa. Chị với chồng chị có lý trí rất cao là không đẻ nữa thì không được chửa nữa. Thế mà chị vẫn bị chửa. Chửa rồi thì phải đi kế hoạch tội lắm. Chị với chồng chị không chiến thắng được dục vọng. Giờ cu cứ trêu chị thế là không được đâu đấy.
Thị nghĩ hay là lại đóng bỉm vào cho ông chủ. Chứ cái cách con giống con má của ông chủ nó cứ cất cao đầu thế kia thì thị không thể chịu đựng được. Thị cũng chả hiểu sao, cứ thấy thị là nó lại cất cao đầu. Ừ thì thị cũng biết là ông chủ đang dần khỏi bệnh. Ông chủ đã có cảm giác ở một số bộ phận. Nhưng sao lại không ở các bộ phận khác mà lại ở cái bộ phận nhạy cảm này cơ chứ. Nó làm cho thị rất khó làm việc. Như hôm trước ấy, khi tắm cho ông chủ, lúc chị kỳ cọ đến cái chỗ nhạy cảm đó, nó cứ phồng to nên rồi cứng nhắc. Thị đã đỏ mặt tía tai chạy ra khỏi nhà tắm. Nhưng đến khi quay lại để tắm tiếp cho ông chủ thì thị đã không cưỡng được cảm xúc của chính thị, khiến thị cứ nắm chặt tay vào cái con giống con má. Cái chết nữa là đêm ngủ thì thị lại mộng mị. Thị nằm mộng có một người đàn ông hôn thị khiến cho cảm xúc thèm khát của thị đang ngủ im bật dậy. Thị nhớ rõ mồn một giấc mơ tối qua là thị đã nắm chặt lấy con giống con má để đưa nó vào người thị mà không được. Thị tỉnh giấc trong ngất ngây của sự khát thèm.
Hay là đóng lại bỉm cho ông chủ? Từ lâu rồi bà chủ đã không còn phải mua bỉm cho ông chủ nhưng vẫn còn một bịch chưa dùng đến. Đóng bỉm thì dễ thôi. Thị đã quá quen với thao tác này rồi. Chỉ có điều khi bà chủ hỏi tại sao thì biết nói thế nào. Còn... cái chính là thị thương ông chủ. Đã tháo bỏ được sự khó chịu bấy nay, giờ lại đeo vào thì khổ quá. À, thị đã có cách. Thị sẽ không xoa bóp cho nữa, có nghĩa là thị sẽ ít tiếp xúc thôi.
Thời gian quả là dài với thị. Bây giờ đã là thu rồi. Việc tắm rửa cho ông chủ cũng không phải ngày nào cũng cần. Lại nhờ có thị huấn luyện nên ông chủ đã đi tiểu đi tiện chủ động. Thành ra thị rỗi việc. Mà cái sự rỗi việc bây giờ nó khác cái lúc thị mới đến, là chỉ nhớ chồng nhớ con rồi khóc. Cái sự rỗi việc bây giờ nó lại làm thị nghĩ đến một cái. Một cái, nó đã như nỗi ám ảnh thị. Nó ám ảnh thị ghê gớm. Nó đẩy cảm giác của thị thành sự thèm khát. Thị thèm khát. Thời gian như kẻ đồng loã với thị. Nó hối thúc thị.
Thị mộng mị đi vào phòng ông chủ. Cái ánh mắt của ông chủ như thúc vào tim thị. Cái ánh mắt mừng rỡ. Thị nhìn sâu vào cái ánh mắt mừng rỡ đấy rồi thị trút bỏ áo quần của thị. Thị lật chiếc khăn mỏng đắp trên người ông chủ. Con giống con má đang cất cao đầu chờ thị. Như giấc mơ đêm hôm nào thị cần lấy nó đưa vào cơ thể thị. Thị đã không phải thức giấc trong sự thèm khát cháy bỏng nữa. Thị đã thoả mãn.
Thị không mộng mị nữa. Thị sợ hãi tột cùng. Thị vội vàng xả nước vào bồn. Thị mang ông chủ vào tắm rửa sạch sẽ, rồi thị cũng tắm rửa. Thị xả nước và xát rất nhiều xà phòng vào thân thị. Thị kỳ cọ thật mạnh. Thị muốn lột da thị. Xong xuôi thị nhìn đồng hồ. Còn phải 4 giờ nữa thì bọn trẻ mới về và bà chủ thì 6 tiếng nữa. Thị suy nghĩ về việc thị vừa làm. Đồi bại, thị rủa mình. Sao lại tệ hại đến vậy, cái thứ đàn bà xấu xa. Thị cũng chỉ biết rủa mình đến thế thôi. Thị ân hận vì mình đã làm cái việc xấu xa ấy, thị khóc. Thị khóc nhiều lắm. Khóc mụ mị cả người. Khóc đến muốn chết thì thị sợ. Thị sợ phải chết nơi đất khách quê người. Thị sợ chết thì không ai mang tiền về cho chồng thị xây nhà và các con thị không có ai chăm sóc. Thế là thị ngưng khóc nhưng tim thị vẫn đau ràn rạt. Thị muốn nói, thị muốn được chia sẻ, thị muốn thanh minh. ở cái đất này thì có ai nghe thị nói đây, vả người ta có nghe thì người ta có hiểu nổi thị nói gì không? Thị đã là người câm suốt từ khi đặt chân đến đất này. Chỉ có một người thị có thể chút bỏ những tâm sự. Người đấy có nghe được thị nói gì không, thị không cần biết. Thị cần phải nói với người ấy để trút bỏ nỗi lòng.
Ông chủ đang thức, ngửa mặt nhìn lên trần nhà. Thấy thị bước vào bèn hướng ánh mắt về phía thị. Lại cái ánh mắt mừng rỡ. Thị nhìn vào mắt ông chủ. Và chị đã nhận thấy mắt ông chủ trong veo như mắt trẻ con. Sao cái sự hớn hở kia nó lại giống cái ánh mắt của thằng Đức khi nó vén áo thị lên để bú thị. Trời ơi, sao mà nó giống vậy. Thị bật khóc nức nở. Thị úp mặt vào ngực ông chủ khóc ồi ồi: Cu ơi, chị có tội với cu quá. Chị còn mặt mũi nào mà nhìn các con chị, nhìn chồng chị nữa đây. Chị không muốn sống nữa, nhưng chị cũng không thể chết. Chị cũng không thể biết được tại sao chị lại hành động như thế. Cu có hiểu được cho chị không? Chị cũng là con người mà. Chị sợ bà chủ biết lắm. Bà chủ mà biết thì bà đuổi chị, không trả chị tiền nữa thì chị chết mất. Chị chỉ còn mấy tháng nữa là được về nhà rồi.
Cu ơi cu đừng khinh chị nhé. Chị đến nhà cu làm việc đã gần 20 tháng, là gần 600 ngày, chị chỉ có cu là bầu bạn. Vui sướng, buồn đau chị chỉ biết thổ lộ cho cu. Chị nói cười cũng là cho cu. Nếu không có cu chị không biết là chị sẽ như thế nào. Chị biết cu đang dần khỏi bệnh rồi đấy. Cứ yêu thương chăm sóc cu như chị đã yêu thương chăm sóc cu thì chỉ ít lâu nữa là cu sẽ khỏi bệnh thôi. Khi nào chị sắp về chị sẽ nói với trung tâm để họ nói lại với bà chủ.
- Cu ơi, cu tha lỗi cho chị nhé, chị lại phải đóng bỉm lại cho cu thôi, chứ cu cứ trêu chị thế thì chị lại khổ mất. Chị...
Đột nhiên thị ắng tạnh. Có cái gì đang bò trên tóc thị. Thị lặng im để nghe ngóng. Cái gì đang bò trên tóc thị. Cái gì? Thị đưa tay lên tóc để tóm con gì đang bò trên tóc thị. Thị đụng vào một bàn tay. Bàn tay đang ngọ nguậy trên tóc thị. Thị nắm chặt lấy bàn tay đó rồi ngửng đầu reo lên:
- Ôi, tay cu à? Tay cu cử động được rồi à? Đấy chị biết ngay mà, cu sẽ khỏi bệnh. Cu khỏi bệnh rồi. Tay cu cử động được rồi mà. Hay quá. Cu giỏi quá. Để chị thơm cu một cái nào.
Thị áp mặt thơm vào má ông chủ. Ông chủ đã cảm nhận được cái hôn của thị, người ông chủ run lên. Và điều kỳ diệu hơn tay ông chủ đã nắm được tay thị.
- Ô, cu nắm được tay chị đấy à? Tuyệt vời quá. Tuyệt vời quá. Thế thì chị thơm cu một cái nữa nào. Sao thế? Sao cu khóc. Nước mắt ướt cả má chị này. Để chị lau nước mắt cho nhé. À, cu cảm động đấy mà. Cu khỏi bệnh nhanh lên rồi về quê chị chơi nhé. Quê chị toàn những người như chị thôi. Nhất mực vì chồng con nhưng cũng biết thương người. Cu khỏi bệnh nhanh lên rồi về quê chị chơi. Tuyệt vời quá. Tuyệt vời quá.
Thị đâu biết rằng sấm sét đổ xuống đầu thị. Cái máy nhỏ, có cái lỗ nhỏ mà mấy hôm trước bà chủ gắn trên tường phía đầu gường của ông chủ, mà thị cứ tưởng là cái máy xua muỗi cho ông chủ, thì ra là một cái camera. Nó đã ghi lại trung thực nhất cử nhất động của thị mà thị đâu có biết. Nửa đêm hôm đấy thị đã bị bà chủ túm tóc lôi dậy. Bà chủ vừa khóc vừa hét lên be be và đấm đá thị túi bụi. Đến mờ sáng thì thị bị công an đến giải đi.
Thị bị nhốt vào trại giam mà không hiểu mình đã mắc tội gì? Cho đến một tuần sau có người của công ty đến nói cho thị biết thị đã phạm tội quấy rối tình dục ông chủ. Thị sẽ bị ra toà và có thể bị tù giam đến 5 năm. Thị đã ngất xỉu khi nghe tội danh của mình. Sau đó thì thị đã tìm cách tự tử. Bị canh nghiêm ngặt nên thị đã tự tử không thành. Rồi thị bình tĩnh lại để nghĩ. Thị không thể chết một cách oan uổng như vậy. Nhất là sau khi được một luật sư đến gặp, nói sẽ bào chữa cho thị. Ông luật sư còn nói, chính thị sẽ phải tự bào chữa cho chính thị. Đó là cách tốt nhất.
Ngày mai thị sẽ phải ra toà. Thị đang nghĩ rất nung nấu cách bào chữa cho mình. Thị đã sắp xếp cuộc đời thị thành một câu chuyện có đầu có cuối một cách dễ hiểu. Còn cái làm thị suy nghĩ và cân nhắc là thị có nên yêu cầu gia chủ đưa cuốn băng kia ra không? Nếu đưa cuốn băng đó ra công khai thì hình ảnh thị trần truồng ngồi lên trên ông chủ sẽ bị phơi bày trước thiên hạ. Điều đó thật là khủng khiếp. Nhưng nếu cuốn băng đó được đưa ra thì thiên hạ cũng sẽ thấy được sự yêu thương của thị đã làm cho ông chủ đang dần khỏi bệnh. Thiên hạ sẽ thấy được bàn tay ông chủ vuốt tóc thị, nắm tay thị và nhưng giọt nước mắt của ông chủ như thế nào? Một căn bệnh mà y học đã phải bó tay, vậy mà thị lại làm được. Những giải thưởng cao quí của nhân loại đã được trao cho những người tìm ra cách chữa các bệnh hiểm nghèo là gì? Không, thị không cần giải thưởng cao quí đó. Thị chỉ muốn về với chồng với con. Thị chỉ muốn đừng trừ tiền công lao động mà thị tích cóp được. Thị chỉ muốn thiên hạ hiểu cho được những nỗi thống khổ của những người đàn bà nghèo phải rời bỏ quê hương đi làm ăn. Thị chỉ muốn thiên hạ hiểu cho những nỗi thống khổ của đàn bà. Thị chỉ muốn thiên hạ nhận ra sự tốt đẹp của đàn bà để tha thứ lỗi lầm cho họ.
Thị sẽ làm tất cả những điều thị nghĩ. Thị sẽ yêu cầu gia chủ mang cuốn băng ra toà. Thị biết nếu như vậy thì một lần nữa thị đã mang trọng tội với chồng và hai con gái thị. Lời nói đã rất khủng khiếp rồi, giờ lại là hình ảnh trực diện thế này. Thị đã hiểu được một điều, thế giới mênh mông nhưng có một thứ xuyên suốt truyền đi nhanh lắm. Cái thứ xuyên suốt đó là cái gì thì thị không biết được. Cái làng quê của thị cũng không thể nằm ngoài cái sự xuyên suốt đó. Nhất là cái làng quê nghèo của thị vẫn có những phụ nữ đi ra nước ngoài làm ăn như thị.
Thị lại còn nghĩ được những điều to tát chứ. Trên thế giới mênh mông có nhiều làng quê của các dân tộc khác cũng ra nước ngoài làm ăn như thị. Họ là những phụ nữ nghèo. Thị muốn nói thật to trước toà một câu nói mà mọi người đều có thể hiểu. Thị cố nhớ lại cái câu tiếng Anh cô giáo đã dạy cho thị trước khi ra nước ngoài: I am: Tôi là. I am: Tôi là. I am đàn bà. Đúng rồi I am Đàn bà, thị sẽ nói câu đó thật to trước toà.
Rất thanh thản thị thiếp đi.
8/3/2006